Thứ Hai, 7 tháng 5, 2012

Sự học vùng cao

Năm ngoái, mình ra Bắc, tháng cuối năm, rét căm căm bò lên Xín Mần (Hà Giang) cùng cụ và Béo.
Con Cressida 2 chấm đời cũ, sâu thăm thẳm mà chạy tít thò lò. Đúng là hàng Nhựt Bổn.
Chẳng biết sao có duyên với Xín Mần đến thế, cứ dư thể quê của mình, từ ngày ngoài đó, đến khi chuyển vào trong này, mỗi đận đi biên giới, kiểu gì cũng ghé qua nơi này.
Càng đí lên sát vùng biên,càng thấy nỗi khổ của người dân.
Có gì đâu mà chẳng khổ, bao năm vẫn  ngô, sắn qua ngày. Thóc gạo không mấy vì ruộng ít, lại tuyền ruộng bậc thang, chỉ được mỗi tích sự là cho các "hiếp ảnh gia" và khách du lịch chụp lấy chụp để.
Nghèo về vật chất, cái sự học cũng nghèo theo.
Mình đi tới những điểm trường cách trung tâm huyện mấy chục cây số đã thấy nó xơ xác, tiêu điều. Thế này thì dững điểm tít mù tắp, chẳng hiểu sẽ tan nát dư thế nào nữa.
Trẻ con nơi đây mắt đứa nào cũng ngơ ngác, thấy lũ người kinh mình lên dòm tới dòm lui, y như hai đứa con gái mình lần đầu tiên vào Thủ Lệ xem khỉ. Nhìn chúng, thấy toát lên sự thật thà, ngây thơ, trong trắng đến phát thộn người ra, chẳng dư cái lũ trẻ ở trong cái ghêm sâu "Ở nhà chủ nhật", ranh ma, láu lỉnh, mở mồm là con xin tự giới thiệu, con là Mộng Mơ, năm nay con 4 tuổi, học trường Quốc tế, con yêu ba mẹ lắm, vì con đòi gì ba mẹ cũng cho con...
Dững trường nội trú được dựng lên để đón chúng đến ăn học, dưng mà ăn thì ít, vì chẳng có mà ăn. Mùa đông, rét cắt tai, đa phần chúng đi chân đất, trên người có thêm manh áo dài tay, trừ nhà nào có điều kiện thì mua cho con tấm áo khoác Tàu, dưng cũng mỏng mảnh lắm, chẳng thể ngăn nổi cái giá buốt vùng cao.
Thế nên, dững bài học đầu tiên chúng được học ở trường càng chật vật hơn so với đồng trang lứa của chúng ở dưới xuôi. Có đứa học mãi không qua nổi cấp 1, dưng thân thể thì không đúp được mà cứ nhớn dần qua từng năm, đến một lúc nào đó, thôi thì chẳng học nữa, tớ về lấy chồng, hoặc lấy vợ đây, trả lại cái chữ cho thầy, về đẻ con sướng hơn nhiều!
Những hình ảnh này mình phang ở một xã, cách trung tâm huyện Xín Mần có trên chục cây, xã nằm trên đỉnh cao khoảng dăm trăm mét so với mực nước biển.


Dư này thì đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục làm sao?



Khu nội trú của bọn chúng đây, dòm mà buồn chảy nước mắt



Cái này là mặt tiền của Ký túc xá



Còn đây là nội thất ký túc



Mái thủng lỗ chỗ lại hay, có le lói tí ánh sáng tri thức



Toàn cảnh khu ăn ở của mầm non đất nước



Chỉ có mỗi cái trống là mới




Bộ đội mà lấy giáo viên

Ở đảo Phú Quí, có một số đơn vị bộ đội đóng quân.
Mình ra đó, được tới thăm các anh em Hải quân và Phòng không.
Khỏi phải nói khi gặp mọi người ở nơi xa tới, mừng vui, thắm thiết và tình cảm kinh người. Nhất là gặp được đồng hương thì không gì bằng.
Có anh ra đảo cả hai chục năm và định cư luôn ở đảo không về đất liền nữa.
Có anh mới ra, lúc đầu nhớ nhà ứa nước mắt, nhưng chỉ ở đôi năm, bẩu về không, lắc đầu quầy quậy. Hỏi ra mới biết, tình yêu người lính và thiếu nữ trên đảo đã khiến cho nhiều chàng dứt bỏ quê hương, nguyện ở lại giữa biển khơi cùng nàng.
Cũng rất lạ, khi mình hỏi về gia đình thì anh bộ đội nào cũng giông giống dư anh nào.
Hỏi:- Anh có vợ chưa?
Giả nhời: - Có rồi.
Hỏi:- Vợ làm gì?
Giả nhời: - Giáo viên.
Ở Trạm ra đa 575, tiểu đoàn 451- Vùng 4 Hải quân, mình gặp thiếu tá Nguyễn Khả Hồng, quê ở Chương Mỹ - Hà Tây. Anh Hồng ra đảo từ năm 1989, tính đến nay đã 23 năm.
Vợ anh là cô giáo cấp 1, người gốc ở đảo Phú Quí. Anh chị hiện đã có hai con trai, cậu lớn học lớp 11, cậu nhỏ học lớp 4.
Dưng mà cái gia đình đạt điểm 8 của anh luôn luôn không đoàn tụ. Bởi lẽ, ngoài Bắc, hai ông bà nội đã cao tuổi, anh thì bận trực liên miên vì làm cán bộ kỹ thuật của trạm, hơn nữa, khoảng cách từ đảo về nhà, rồi phương tiện đi lại không phải lúc nào cũng cho phép anh muốn thăm nom bố mẹ là được. Bèn chọn giải pháp, cho cậu cả về quê học, ở cùng với ông bà đỡ đần sớm khuya và cũng cho vui cửa, vui nhà.
Giọng anh khi nhắc đến điều này trầm hẳn xuống, bởi gia đình bên nội có duy nhất anh mà thôi.
Anh Hồng kể, khi mới ra đảo, buồn lắm, hồi đó mà so với bây giờ là một giời, một vực. Đường sá lầy lội, toàn đất, sỏi. Nhà cửa thưa thớt, tàu vào đất không nhiều như nay, mãi mới có một chuyến. Gặp biển động thì rau còn chẳng có mà ăn, cứ cơm cá khô mà diễn hàng chục ngày là chuyện thường.
Mới đây thôi, Tết 2011, biển động mất nửa tháng giời, làm đơn vị hết cả gạo dự trữ, tàu nhỏ không ra được, phải chờ tàu lớn và trực thăng tiếp tế mới có gạo ăn.
Đơn vị đóng quân trên địa bàn xã Ngũ Phụng, thế nào mà anh lại lui hay tới gia đình vợ anh bây giờ, mãi rồi thành thân thiết, để rồi sau một thời gian, anh quyết định hạnh phúc trăm năm tại đảo với người con gái sinh ra cách quê hương " Chiếc gậy Trường Sơn" của anh cả ngàn cây số. 
Cười rất vui, Thiếu tá Hồng khoe: Hạnh phúc đến với tôi như một giấc mơ, bởi khi ra đảo không khi nào tôi nghĩ ở lại nơi này, lắm lúc cô đơn, buồn tủi nhớ quê lắm, mong ngày được về đất liền. Giờ có bà xã quê gốc ở đây, tôi như thấy mình là người con sinh ra ở Phú Quí.

Giai Chương Mỹ lấy gái Phú Quí đơi

Cũng giống như Thiếu tá Hồng, Thiếu úy Mai Hùng Hậu quê Tiên Lãng, Hải Phòng lấy vợ giáo viên cấp 2, dưng mà vợ ở quê, năm 1995 anh Hùng ra với đảo, tuyền là đảo xa tít mù khơi, đã từng nằm ở rất nhiều đảo như Đá Tây, Thuyền Chài, Trường Sa Đông...nên anh thấu hiểu nỗi nhớ nhà, nhớ vợ của dững người lính.
Nhân một dịp phép, về quê tìm hiểu, kết một cô giáo, anh lấy khẩn trương. Vợ kém chồng 4 tuổi, vừa đẹp, vừa xinh, nghề nghiệp chuẩn chỉ, đúng mốt của các cụ bô lão đặt ra cho con cái: Bộ đội là phải lấy giáo viên.
Năm 2007, vợ Thiếu úy Hùng sinh con đầu lòng, giờ cháu đang học mẫu giáo nhớn ở quê. Mỗi năm có 37 ngày phép, anh tận dụng tối đa cho vợ con gia đình rồi lại hối hả ra với đảo.
Cũng ở Trạm ra đa phòng không 55- thuộc Quân chủng Phòng không- Không quân trên đảo Phú Quí, mình gặp tuyền dững cán bộ, chiến sỹ trẻ măng, so với tuổi mình. Cậu Trạm trưởng người Nghệ An tên Hiệp, chức Đại úy sinh năm 78. Tướng tá cao ráo, thư sinh, chẳng giống bộ đội đảo chút nào.
Đêm đó, xong công việc, ngồi với anh em của trạm tại sân đơn vị, thức ăn, đồ uống là của đơn vị sản xuất ra hết, yên tâm về vệ sinh an toàn thực phẩm.
Nhậu hết vài be, từng đôi, từng đôi đi vào chiều sâu tâm sự.
Mình hỏi Hiệp, vợ con gì chưa mà trông vẫn trẻ quá vậy.
Hiệp nói, rồi anh ơi, nhưng mà bà xã đang còn ở quê. Mỗi năm em chỉ được về bên vợ một lần vào kỳ phép. Ở đảo này mà có vợ ở xa thì nỗi nhớ, nỗi buồn còn gấp trăm ngàn lần trong đất!
Mình thấy cậu mặt đờ ra hẳn, bèn động viên: Thì càng xa nhau, càng thấy nhớ nhung và hạnh phúc tăng lên bội phần khi mỗi năm được về bên nhau một lần chứ.
Cao hứng mình đọc cho cậu câu thơ để giải tỏa tâm trạng:
" Bộ đội mà lấy giáo viên
Gia đình hạnh phúc sướng điên cả người..."
Vừa đọc xong, mấy chú bàn bên bê ghế, dồn mâm góp vui câu chuyện. Thế là mình ngồi kẹp giữa một chú Thượng úy tên Quang và Đại úy Hiệp. Quang vừa nâng chén vừa giới thiệu, nghe giọng đầy hưng phấn và hạnh phúc:
- Báo cáo anh, vợ em cũng là giáo viên như vợ chú Hiệp đây. Sau bao năm sống xa cách nhau, năm ngoái em đã chuyển được vợ em từ quê ra đảo dạy học.
Ối giời ơi, tôi nhìn Quang ngỡ ngàng thán phục.
- Thế bà xã ra đây có kêu buồn không? Tôi hỏi.
- Không anh ơi, vợ em bảo thế này là vợ chồng mình sướng lắm rồi, được bên nhau thì cả nhà ra giữa biển ở cũng được!
Rượu đêm với những người canh trời, canh biển giữa mênh mông ngàn trùng sóng nước, cảm giác không thể say mà cứ lâng lâng mãi trong đầu. Mình mới hiểu những con người nơi đây, hạnh phúc đối với họ là những điều bình dị chân thành nhất, không hão huyền, không lố lăng dư những cái bọn người sống trên nhung lụa xa hoa, những cuộc thác loạn nổ giời thâu đêm suốt sáng...
Chẳng biết ai sướng hơn ai? đó là tùy ở mỗi người, dưng mình nghĩ, các chú bộ đội nơi đây mới là sung sướng nhất trên trần gian, bởi các chú sống có lý tưởng, mục tiêu rõ ràng, không lèm nhà, lèm nhèm dư mấy cái anh trong đất. Thứ nữa, các chú được tận hưởng cái hạnh phúc do tự mình tạo dựng nên bằng mồ hôi, công sức chính mình và hơn hết, bên cạnh các chú luôn có những cô giáo yêu thương chồng của mình cháy bỏng. Đến đây mình mới thấy đúng thật là: Bộ đội mà lấy giáo viên, gia đình hạnh phúc sướng điên cả người!



Chú này là Quang, chuyển được vợ ra đảo dạy học


Còn đây, Chú Hiệp, Trạm trưởng- mình và chú ấy tẩn rượu phê lòi mắt,
ôm nhau như Gay



Bầu trồng tại đơn vị...

Gà thả vườn...


Và cả heo mọi nữa...lòng và tiết ngon kinh

Sau trận nhậu đêm tơi bời, chụp ảnh lưu niệm, mọi người trong trạm đi xe máy đuổi theo con 16 chỗ của bọn mình, tiễn đến tận phòng nghỉ, dùng dằng chẳng muốn về.
Lại trút bầu tâm sự bằng bia 3 con 3 cho đến lúc không thể đứng dậy được nữa mới chia ly thật sự. Xúc động, xúc động...suốt đời mình không quên được tình cảm này.
Sáng hôm sau, tàu dổ neo vào bờ sớm, mình vừa bò lên boong kiếm chỗ nằm vì vẫn còn tê lê phê thì thấy có điện thoại.
A lô- A lô, em Hiệp, em Quang đây, anh lên tàu chưa? bọn em ra tiễn anh đây!
Mình nhỏm phắt người dậy chạy ra lan can dòm xuống.
Ô kìa, chúng nó ra tiễn thật, hai chú đứng dưới bến, người bé tí, tay vẫy vẫy liên tục. Mình cũng giơ cả hai tay lắc tít và gào lên: Anh về đây, hẹn gặp lại, anh về đây, hẹn gặp lại, cho gửi lời hỏi thăm mọi người!
Còi tàu u ủ tru lên một hồi rồi từ từ rời bến, mình đứng trên boong nhìn mãi Quang và Hiệp...hai đứa cũng đứng đó mãi đến khi mình chỉ còn thấy bóng dáng của chúng nhòa dần cùng với hình ảnh của Phú Quí thân thương. Hẹn một ngày lại ra với đảo, với dững người sống đúng nghĩa tình người...

Tạm biệt...và hẹn gặp lại




















Thứ Bảy, 5 tháng 5, 2012

Phú Quí - đảo Ngọc thân thương

Tháng 7 năm trước mình ra với Phú Quí.
Đoàn đi khoảng gần hai chục mạng, có Nhân Dân, Thanh Niên, HTV, Công an thành phố, Tuổi Trẻ cùng mấy cái tạp chí khỉ gió gì đó nữa.
Sáng sớm, nắng Phan Thiết đã chói chang, dưng bù lại, gió biển khơi lồng lộng, thổi tung cả mũ, nón.
Con tàu đưa mình ra đảo là chiếc đa di năng, vừa khách, vừa hàng hóa và có cả mấy con bò nữa.
Mấy cậu này lần đầu tiên đi biển, sợ sóng, rúm vào một góc nom đến tội, mình để ý, tàu ra khỏi đất liền chừng vài lý thôi mà mấy cậu này đã sợ vãi cả đái ra. Ướt hết một góc tàu. Đúng là mấy con bò!


Ngoài bò, còn có cả mía




Ngồi trên boong, ngắm biển Bình Thuận, xanh ngắt một màu. Lúc ở gần bờ, thấy gió to là vậy, sao càng ra xa, biển càng lặng, nước trong ngằn ngặt, chỉ một màu mực, đẹp kinh!
Thi thoảng, gặp một chiếc tàu chạy ngang qua, hỏi ra mới biết, cái đó gọi là tàu Hậu cần, chuyên đi thu mua hải sản từ các tàu cá khác trên biển, đồng thời cung cấp luôn lương thực và xăng dầu cho các tàu cá đó.
Ở Bình Thuận, nhất là đảo Phú Quí, loại tàu này hơi bị nhều.
Ngồi cạnh đồng chí báo Thanh Niên, thường trú tại Bình Thuận, có cái tên nghe như gái: Thanh Hà. Thảo nào, sáng nay, bác trưởng đoàn xướng tên rõ to:
- cô Thanh Hà, báo Thanh Niên có mặt chưa?
Nghe mà đã sướng, vì có gái báo ra đảo, gì thì gì có tí gái vui tươi ra phết.
Bi giờ giáp mặt mới chán ngắc, đồng chí này là giai, người gầy như con cá thác nác, da đen như củ ấu, mặt gồ ghề, khúc khuỷu.
Ngồi mãi mới bắt chuyện, biết mình ở đâu, tuôn một tràng: "Báo chí như chú sướng thật, nhưng nếu cho anh qua đó làm, anh cũng không sang. Bởi tính anh thích khám phá và viết toàn vấn đề gai góc".
Mình chẳng buồn nói gì, nghĩ trong đầu: Tiên sư bố nhà anh, báo chí cái đéo gì, cùng là hãng quốc doanh với nhau cả, gớm! cứ tinh tướng...hahaha!
Được cái cậu này thuộc vanh vách về Phú Quí, cũng có gì lạ đâu, quanh năm mỗi cái tỉnh Bình Thuận, không thuộc mới là điên chứ.
Chỉ cần hỏi mỗi câu, cậu trả lời mẹ nó trước dăm câu. Nghe mà sướng, đỡ mất công đặt câu hỏi, đi phỏng vấn mà gặp thằng cha nào dư này thì tuyệt.
Hỏi: - Từ Phan Thiết ra Phú Quí bao xa?
Trả lời: - 54 lý, đi khoảng 6 tiếng. Biển êm thì ngon, động thì chẳng biết thế nào mà lần. Ra đó buồn chết, nhiều muỗi, giữa biển dưng mà lại lắm muỗi thế chứ. Có đồng chí Bí thư huyện ủy kiêm Chủ tịch....
Bảo 6 tiếng, thế mà mình cảm giác như cả gần chục tiếng đồng hồ, mới nhìn thấy Phú Quí mờ mờ trước mặt. Giữa muôn trùng sóng nước, đảo Ngọc như một dải đất nhô lên mặt biển hình hai con rùa ngậm đuôi nhau, dưng mà mấy con rùa này dài và gầy kinh.


(Ô thôi chết, 11h15 tối nay thằng Li vơ phun choảng nhau với thằng Chen si tranh cái ép ây, xem phát đã, đành tạm dừng để tối nào có hứng kể lể tiếp và nhất là ủn hình lên cho oách...
...Khỉ thật, thế là cậu Li vơ phun đã phun thật rồi, 2-1 cho Chen si. Dưng cũng chẳng có gì gọi là buồn, vì 2 cái cậu này, cậu nào lấy cái ép ây cũng được. Mình đã nhạt nhẽo với cậu Li vơ phun từ ngày chú Ô oen sang Ma đờ rít, rồi dặt dẹo từ đó đến giờ, quên mất cả đá đấm, như cái bóng vật vờ trên thảm cỏ, thật thảm hại cho chú này, một thời là thần tượng của mình).


...Nắng chiều vẫn chói chang, tàu từ từ cập bến. Đã có hai chiếc "Đi chán bán không lỗ" 16 chỗ của Ủy ban huyện ra đón. Sau dững cái bắt tay thủ tục, lắc lắc rung vai, tất cả lên xe di chuyển về nhà khách của huyện.
Thế quái nào lại ở cùng phòng với giai Thanh Niên- Thanh Hà.
Mình bẩu giai:
- Ở đây có gì hay ho, viết lách được không anh?
- Có chứ, mà phải nằm lại đây cỡ nửa tháng chứ đi có mấy ngày, viết lách đếch gì. Chiều anh dẫn chú đi khắp đảo, thăm thú, tùy theo cảm hứng, viết gì, chụp gì là ở chú. Anh viết về cái đảo này oải quá rồi, cạn nguồn, mỗi lần ra lại phải lấy đà để có cảm xúc, nhưng cũng có lần, đéo viết được gì, về không, chán chẳng khác nào chó ngồi chầu tát ao!
- Sao anh biết là chán như chó ngồi chầu tát ao?
- Tao là người Ninh Bình mờ!
Bố khỉ, thảo nào...
Chiều, mượn được một con rim Việt của bác Trưởng Ban Tuyên giáo huyện ủy, người gốc Phú Yên, nói mười câu mình chỉ dịch được 3, khó nghe kinh. Dưng mà có mỗi một con mũ bảo hiểm, mình bẩu giai Thanh Niên:
- Thôi, ai chở thì người đó đội, với cả ở đảo này, công an chẳng bắt đâu.
Vừa phi cách trụ sở huyện gần cây số, ba chú 2 vàng, một xanh và một chiếc bán tải lù lù đỗ bên đường.
Tiếng còi rít lên, cái gậy gỗ vung tít, chỉ vào đầu con rim của bác Trưởng Tuyên giáo.
Mình dừng xe, gạt chân chống.
Chú đồ vàng không chào, quát luôn:
- Đề nghị dựng xe sát bên trong, cho kiểm tra giấy tờ.
Mình lịch sự dư người trong đất:
- Báo cáo các đồng chí, chúng tôi ở đoàn công tác tuyên truyền biển đảo, đang đi thực tế để tin bài cho đảo nhà. Cái xe này là của đồng chí Trưởng ban Tuyên giáo cho mượn nên không có giấy tờ. Còn mũ bảo hiểm thì đi mượn mãi mà không được, nên đành vi phạm để đi tác nghiệp, mong các đồng chí thông cảm.
- Được rồi, vậy đề nghị anh ngồi đằng sau quay lại lấy mũ rồi các anh đi tiếp. Chú đồ vàng xuống giọng.
Mình bèn bẩu giai Thanh Niên, ngồi lên đi để em quay lại kiếm mũ.
Giai Thanh Niên vừa chễm chệ trên yên sau, chú đồ vàng kiên quyết:
- Anh không có mũ xuống ngay, anh có mũ đi mượn cho anh quay về rồi hai anh đi tiếp.
Rắn kinh, dưng mà nếu ở đâu cũng thực hiện nghiêm dư ở Phú Quí này thì có lẽ tai nạn giao thông cũng đỡ đi bội phần.
...Rong ruổi trên con rim Việt một buổi chiều, điều ấn tượng đầu tiên đập vào mắt mình là tuyến kè biển hùng vĩ của Phú Quí, dưới cái nắng chói chang giữa trùng khơi, tốp thợ vẫn cần mẫn lát từng khối bê tông vuông vức, thẳng như kẻ chỉ, đoạn kè dài cả cây số này sẽ bảo vệ đảo khỏi bị sạt lở theo những cơn sóng dập, sóng vùi. Nghe nói, mỗi năm trước khi kè đảo, diện tích bị biển nuốt không nhỏ, chỉ mươi năm mất cỡ khoảng vài ha.
Ngắm cái công trình chỉ do bàn tay và sức con người làm nên, mới thấy đúng là không có việc gì khó, chỉ sợ tiền không nhều...




Đẹp kinh


Vòng quanh Phú Quí là con đường trải nhựa phẳng lì, với những hàng thông và cây phát lộc, phát tài xanh ngút ngàn, mình và giai Thanh Niên đang thả tầm mắt phóng ra biển, từ trên cao thấy biển như đông đặc vì chỉ một màu. Thi thoảng mới thấy một cái bóng li ti của chiếc mủng, chiếc thuyền câu. Bỗng thấy trong lùm cây vang lên tiếng nhạc chát chúa. Gớm thật, loa đập uỳnh uỵch hết công suất, tiếng người dô..dô vang động một góc giời.
Lại gần, hóa ra khoảng trên dưới hai chục nam thanh nữ tú đang quay cuồng trong tiếng nhạc sàn, vỏ lon bia 333 ném lung tung, đầu cá, xương cá chỏng chơ trên tấm ni lông trải làm bàn nhậu. Mình bẩu:
- Vui kinh, nhậu dư này mới đã, đúng là đảo này ăn chơi thật.
Giai Thanh Niên ôn tồn giải thích:
- Hôm nay là mười rằm, dân đảo và nhất là dân đi cá ăn rất to, thâu đêm suốt sáng, chứ ngày nào cũng thế này có mà chết à? Lát vào làng, chú tha hồ ngắm người nhậu say xỉn, vui lắm!
Ô, thích thật, thích thật...
Mình chỉ nghe nói vậy đã sướng run trong bụng, nói giai Thanh Niên chỉ đường vào làng thẳng tiến.
(Dưng mà khỉ thật, lại có việc rồi, vợ sai đi chở mấy thùng mì chua cay Hảo Hảo, đành để lúc khác ủn tiếp vậy, đi phát đã...)
...Con đường vòng quanh Phú Quí thật đẹp, dững hàng thông đứng chen chân, cành lòa xòa đan vào nhau như che chắn nắng gió cho cư dân trên đảo.
Thỉnh thoảng ở mỗi khúc cua, biển lại hiện ra trước mắt, ngay dưới chân mình, những con sóng bạc đầu xô bờ nổi bật lên trên nền xanh như mực của nước biển, dòm mà mát mắt.
Trước khi ra đây, mình đã đọc về Phú Quí, nghe nói cái hòn đảo này, diện tích chỉ còn khoảng 16 ki lô mét vuông với gần 28 nghìn cư dân.
Trong sách xưa có viết : “Đã từ lâu đảo Phú Quý trở nên rất quen thuộc với nhiều người qua sử sách xưa dưới nhiều tên gọi: Cổ Long, Thuận Tịnh, Cù Lao Khoai Xứ, Cù Lao Thu... Từ niên hiệu trị thứ 4 (1844) vì tiềm năng kinh tế dồi dào và số lượng đặc sản đáng kể biệt nạp cho Triều đình Huế, đảo được đổi tên từ Tổng Hạ sang Tổng Phú Quí trực thuộc huyện Tuy Phong, phủ Ninh Thuận, tỉnh Bình Thuận. Tuy là một hòn đảo nằm biệt lập giữa trùng dương nhưng dấu tích phát hiện được cho thấy đảo đã được khai phá tạo nên cuộc sống ở đảo từ rất sớm. Trong quá trình khai thác đá quánh, nhân dân đã tìm thấy những mộ vò lớn. Trong mộ có chôn theo một số công cụ lao động như rìu, bôn và cả những chiếc vòng đeo tay bằng đá với kỹ thuật chế tác rất tinh xảo. Điều này phù hợp với những giai thoại được lưu truyền rằng trước khi có sự khai phá thiên nhiên của những con người từ lục địa, ở đây đã có một giống người "Thượng" sinh sống bằng nghề hái lượm và bắt cá ven biển. Trải qua những biến thiên của lịch sử, Phú Quí là nơi hội tụ của nhiều luồng dân di cư từ lục địa ra với nhiều thành phần dân tộc khác nhau. Trong đó người Kinh đóng vai trò chủ thể.
Khi bắt đầu phát triển mạnh kỹ thuật đóng thuyền buồm với những chiếc thuyền ra được khơi xa thì cũng là lúc có nhiều người từ lục địa đặt chân lên đảo. Cùng với những phần mộ còn xót lại trên đảo, sự tích công chúa Bàng Tranh chứng tỏ người Chăm đã có mặt ở đảo này. Sự tích kể rằng: Bàng Tranh là một công chúa xinh đẹp vì chống lệnh vua cha nên bị kết tội phản nghịch nên bị kết đày ra đảo.
Bên cạnh đó, do không chịu nổi sự hà khắc của chế độ nông nô, bất mãn với triều đình phong kiến, nhiều người đã tìm đường ra đây lập kế sinh nhai. Người Kinh có mặt ở đảo cũng từ rất sớm. Lúc bấy giờ, vào một thời điểm mà triều đại phong kiến Việt Nam đang trượt nhanh trên con đường mục nát, nạn đói xảy ra ở nhiều nơi. Ở các tỉnh miền trung lúc bấy giờ, những người cùng khổ hoặc phải bán vợ đợ con hoặc phải phiêu dạt đi khắp nơi để kiếm sống và Phú Quí là một điểm đến an lành mà họ đã tình cờ bắt gặp. Trong thời kỳ Trịnh-Nguyễn phân tranh (1627–1672), rất nhiều ngư dân thuộc các tỉnh duyên hải miền trung, hoặc chạy giặc lánh nạn, hoặc đi tìm nguồn cá, thuyền của họ vượt sóng trùng dương đã gặp phải những trận cuồng phong khốc liệt và "xiêu" lên đảo.
Cùng với người Kinh, một số người Hoa cũng hoà nhập vào cộng đồng cư dân ở Phú Quí. Vàơ thế kỷ 17, một số quan lại nhà Minh sau khi chống nhà Thanh thất bại, đã phải trốn ra nước ngoài. Từng đoàn thuyền vượt biển tiến về phía nam, trong số đó có hàng chục thuyền đã quyết định dừng chân lập nghiệp ở Phú Quí. Người Hoa đến đây sống dựa vào các ngành nghề như dệt tơ lụa, buôn bán. Quá trình phát triển về sau, một số người do làm ăn trở nên giàu có đã lần lượt tìm vào các thành phố lớn ở đất liền, chỉ một số ít còn lại trên đảo.
Khi dân cư ngày một đông hơn thì các hình thức tổ chức xã hội cũng dần dần được hình thành. Vào thời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765), chính quyền Đàng Trong đã tổ chức trên đảo thành từng hộ bạch bố đến đội bạch bố rồi dần dần trở thành ấp và làng. Tuy số dân lúc bấy giờ chưa đông đúc nhưng Phú Quí có đến 14 làng và 1 ấp. Mỗi làng được lập trên cơ sở một nhóm nhỏ ngư dân, đôi lúc chỉ có từ 10 đến 12 tránh đinh và thường mang những tên cũ của địa phương trước khi đến đây lập nghiệp: Thoại Hải, Thế Hanh, Thế An, Hội Thiên, Hội Hưng, Hương Lăng, Mỹ Xuyên, Phú Ninh, An Hoà, Hải Châu, Thương Hải, Triều Dương, Hội An, Mỹ Khê và ấp Quí Thạnh. Từ niên hiệu Đồng Khánh - Nguyễn Cảnh Tông năm thứ 1 (1886), toàn đảo được tổ chức thành 11 làng và đến năm 1930 do sự sáp nhập ba làng Phú Ninh vào Phú Mỹ và Hương Lăng vào Quý Thạnh nên chỉ còn lại 9 làng: Long Hải, Phú Mỹ, An Hoà, Hải Châu, Thương Hải, Quí Thạnh, Triều Dương, Mỹ Khê và Hội An. Hiện nay, đảo được chia làm 3 xã: Long Hải, Ngũ Phụng, Tam Thanh.
Phú Quý trong một thời gian dài đã sống trong điều kiện khép kín tự cung tự cấp với những hoạt động kinh tế như trồng trọt, đánh bắt hải sản, một số ngành nghề thủ công như dệt vải, đan võng, ép dầu... Trong đó, ngư nghiệp đóng vai trò chủ đạo…”
…Và theo chỉ dẫn của giai Thanh Niên, cái làng mình đặt chân đến đầu tiên thuộc xã Long Hải.
Men theo bờ dậu làm bằng dững thân cây dậu lai của miền biển, con rim Việt không thể phi được nữa, bánh trước của xe xiên xẹo trong cát, chỉ trực ngã. Mình quẳng xe vào sát bờ dậu, quen tay khóa cổ. Giai Thanh Niên bẩu:
 - Chú làm thừa động tác rồi, ở đây đéo giống ở thành phố nhà các chú đâu, một mét vuông nơi này toàn người là người, chẳng lẫn một thằng trộm cắp nào vào được, nếu không phải là chú. Không tin, chú cứ để xe và chìa khóa cài nguyên trong ổ, tuần sau lại, xe vẫn nguyên như cũ, không đéo ai thèm động.
Mình lẩm bẩm, thế ra đây là thiên đường rồi còn gì!
Hai anh em lội qua bãi cát, lần ra phía sau làng, đấy là biển. Cát trắng ngập mũi giày, bước đi mà cứ dư tụt lại phía sau.
Một cảnh vật nên thơ, nên cả văn bày cả ra trước mắt. Phía trên là dững con tàu nằm ụ, chờ tu sửa, chúng được che phủ tuyền bằng lá khô. Dưới nữa là đoàn tàu, thuyền lớn nhỏ, sặc sỡ đủ màu sắc, cờ đỏ sao vàng tung bay phần phật, chẳng khác nào một đô thị nổi. Mình sướng đến tê người.
Quả đúng dư lời giai Thanh Niên nói, dưới mỗi một hông con tàu là một mâm nhậu, những gã ngư phủ đánh trần, trên người có mỗi manh xà lỏn. Tay, chân, ngực, bụng săn chắc, bắp thịt nổi cuồn cuộn, đều có chung một màu bánh mật, chứng tích của quanh năm sóng gió biển khơi đang hò nhau dô…dô…dô…
Chẳng để ý xem người lạ từ đâu tới, mâm nhậu đầu tiên kéo tuột mình và giai Thanh Niên vào cuộc.
Màn giới thiệu nhanh như tên bắn. Cũng không quan tâm làm nghề ngỗng gì, chỉ biết người trong đất ra với đảo, thế là khách quí. Uống thôi, còn chờ gì nữa.
Mâm có 5 chú, cả hai thằng mình là 7, chào mâm 1 lượt trước, từng người 1, coi dư 5 chén, lượt hai, từng người chào giả lại khách, 5 chén tiếp, thế là thành 10, và cứ thế men rượu bốc lên hừng hực, nhanh như những con sóng dập dồn ngay dưới chân, mình thấy đầu óc quay cuồng…
Giờ mới nhìn xuống mâm nhậu, thấy có 3 cái đĩa thức ăn và một đĩa hoa nhỏ đựng nước chấm ớt. Món nhậu mừng ngày rằm gồm có: Mực một nắng nướng muối ớt, khô cá đuối cũng lại nướng và một món nữa mình dòm như những con cóc. Mình thấy các chú cứ mỗi ngụm rượu lại tóm hai chân sau của con đó lên, cho đầu nó vào miệng làm một phát. Ôí giời ơi là giời, sợ mà không dám kêu.
Có chú thấy mình nhìn hau háu vào cái món nhậu có một không hai ở xứ ta, bèn giới thiệu:
- Đây là con ếch oon, ở đảo chúng em mới có, nó như con ễnh ương trong đất, mưa xuống kêu rinh trời. Đây là món quí của đảo đấy, anh làm thử đi sẽ nhớ mãi, vì không đâu có mà ăn! Đặc sản đấy!
Mình phải từ chối khéo, không dám biểu lộ cảm xúc kinh hãi khi nhìn các chú nhai ngon lành cái con dư con cóc này, mà nguyên con nhá, không mổ, không lột da, bụng vẫn phình ra như cái trống, nằm tếnh hệnh trên mâm.
Món đặc sản ấy đây này

Ngồi cạnh mình là một chú tên Ly, Ly kể:
- Em đi biển từ năm 17 tuổi, giờ 23, nên đã có thâm niên 6 năm ngư phủ. Hàng năm chỉ có rất ít thời gian ở nhà, còn lênh đênh trên biển, đi xa không kể nơi đâu, miễn chủ tàu thuê, có tiền là đi. Có đận sang tận Mã, tận Phi đánh thuê gần ba tháng mới về. Khi biển yên thì đi tàu nhỏ, mùa tháng 5,6,7 đổ ra có bão gió thường đi tàu lớn, tàu nhỏ kéo hết lên bờ nằm nghỉ.
Mình bẩu:
- Thế có hay gặp cướp không?
Chú Ly nói:
- Có chứ anh, tàu cá mà gặp cướp kể như là xong, trắng tay cả chuyến đó. Cơ mà em mấy bữa bị cướp, chúng chỉ lấy cá, lấy tiền, điện thoại di động rồi thả, bộ đàm trên tàu nó vẫn để nguyên cho mình, mấy thằng cướp này đến lạ, chứ không chết là chắc.
Còn một chú đối diện mình tên Thắng, đi tàu từ năm 16 tuổi, dưng mà theo như các bạn trong mâm nhậu bẩu, chú này là con nhà có điều kiện, không thèm chấp. Bởi nhà Thắng có ba tàu hậu cần, chuyên môn đi thu mua và làm dịch vụ cho các tàu đánh cá trên biển, cái nhà nào làm nghề này mới là lãi kinh khủng và thuộc hàng đại gia. Thật nào, trên tay, trên cổ chú này xiềng, xích vàng chóe cả mắt.
Ngót ngót đã chừng 20 chén hạt mít rượu Phú Quí, người cũng thấy la đà, mình và giai Thanh Niên xin phép mâm đi tiếp, lại chào mâm một phát nữa, dưng rất may là chỉ là quăng chài chứ không thì bỏ bà!
Vừa phóng được dăm trăm mét, định hỏi thăm vào một gia đình có người đi đánh bắt xa bờ câu tí thông tin, vừa ngó đầu qua cổng, thấy trong sân một mâm nhậu đã xơ xác hết mồi, nhìn quanh cũng chỉ thấy dững xương là xương, không kịp thụt cổ lại, hai bác thanh niên lực lưỡng nhảy bổ ra:
- Hỏi chi mấy anh ơi?
Nghe xong phần trình bày hoàn cảnh ngắn gọn của giai Thanh Niên, hai bác lực lưỡng ủn ngay mình và giai vào trong sân, thế là nhậu tiếp. Cha mẹ ơi, cái can rượu to tổ bố đang còn dững một nửa.
Rượu vào dốc bầu tâm tình, mình thấy người ở đảo sao mà quí hóa đến vậy, tình cảm, chân thật, trong sáng quá thể, chẳng giống dư cái lũ người thị thành, lừa nhau từng dấu chấm, dấu phẩy, mẹ kiếp…
Uống chén tạm biệt với mâm thứ 2, mình hỏi cái ông lực lưỡng ngồi cạnh mình:
- Anh năm nay bao nhiêu tuổi rồi?
- Em 32 anh ạ.
Kinh! thế mà mình dòm nó cứ như lão 49-50, nó kém mình gần chục tuổi mà dư ông cụ, khiếp thật! Dưng cũng đúng thôi, nứt mắt ra đã bám biển, nửa đời người trên biển mưu sinh, sóng gió, cái sống, cái chết chỉ mỏng tang dư sợi tóc, làm gì chả khiến người ta già dặn vậy.

"Anh" này kém mình 8 niên


Đã chiều xuống, nắng nhạt dần, gió bắt đầu thổi mạnh từ biển mang theo mùi đặc trưng, nồng nồng, măn mặn. Hơi của biển phả vào mặt làm mình tỉnh cả rượu. Lại tiếp tục cùng giai Thanh Niên chạy thẳng xuống làng Đông Hải để trở về khu vực ăn chiều cho gần.
Loạng quạng thế nào lạc mất cả đường, nhìn thấy hai bà già ngồi phệt trên cát hóng ra biển. Dừng lại hỏi thăm đường, một bà đon đả:
- Đi lối này, tui tiện đường về nhà, dẫn các chú đi luôn một thể.
Loanh quanh theo những hàng dậu lai hoa tím ngăn ngắt, đến trước căn nhà sùm sụp, bà già nói:
- Đi thẳng đường này, khoảng nửa cây nữa, không rẽ đâu là đến cái quán của các chú ăn tối. Vẫn còn sớm, vào nhà uống miếng nước đã.
Mình và giai đang khát cháy cổ vì rượu, được nhời như cởi tấm lòng, vào luôn tức thì. Ngồi bệt xuống hè. Bà già gọi con mang nước ra mời khách.
Mình hỏi:
- Bác năm nay bao nhiêu tuổi rồi?
- Tôi 47, sinh năm 1965.

"Bà lão" này hơn mình 5 niên

Một lần nữa mình lại trố mắt lên dòm, sao ở đây, người già trước tuổi nhiều vậy, hơn mình có năm tuổi mà sao đến nông nỗi này.
Bà già ngồi bẻ lắc cắc đốt ngón tay kể: “ Ông xã tôi đi biển quanh năm, nhà có 4 mẹ con chỉ trông vào cái thuyền nhỏ của ông ấy. Nghèo lắm, mấy chú coi nhà tôi thì biết, có gì đâu, chỉ mong đủ ăn là khỏe lắm rồi. May cho tôi, hai đứa con gái đầu đã lớn, một đứa đi học trong Phan Thiết, còn hai đứa ở nhà, cũng đi học, đứa 11, đứa lớp 4, mà chúng nó chán đang muốn bỏ, giờ không biết tính sao. Đây này, con thứ hai nhà tôi đây, mời nước các chú đi con.
Mình ngước lên, giật bắn cả mình, con gái con đứa đéo gì mà ngon thế này, dưng mà tội thật cơ, đang học lớp 11, mắc mớ chi mà lại tính bỏ ngang chừng, rõ là phí phạm cuộc đời học trò, học choẹt.
Giai Thanh Niên thấy cháu tươi mơn mởn sán lại hỏi chuyện, quên cả phỏng vấn bà già. Giọng giai ngọt xớt: 
- Cháu phải học, không được bỏ như vậy, đây điện thoại của chú đây, thế máy của cháu đâu, lưu lại số chú rồi nhá qua máy chú, khó khăn gì cứ gọi cho chú sẽ giúp đỡ!
Mình suýt phì cười, dưng phải đánh trống lảng hỏi bà già chuyện bâng quơ, vớ vẩn, trên giời, dưới biển…
 "Tiên sư bố nhà anh, anh định làm hiệp sỹ chắc, vợ anh mà biết nó xẻo ngay cái của nợ mà anh đang giữ khư khư đi ấy chứ". Mình lẩm bẩm, chuyện này tớ biết lâu rồi!hehehe...
Thấy giai ngồi buôn rõ lâu, chắc không muốn nhấc đít lên, mình giục:
- Đi thôi anh ơi, đến giờ mơm rồi. Để em bấm kỷ niệm cho gia đình mấy tấm ảnh rồi đi nhé!
Miễn cưỡng đồng ý, giai Thanh Niên bần thần phủi đít quần đứng dậy.
Mình tranh thủ quơ em gái mấy phát, dưng mà cái máy chán quá, người tươi thế, về nhà mở xem ảnh thấy chán kinh!

Gái ơi, sao mà tươi thế


Tối đó, uống rượu xong về nằm ngủ, mình thấy giai Thanh Niên mặt phừng phừng rượu thò đầu ra khỏi màn nói:
- Chú ạ, khéo từ chuyến này trở đi, anh ra công tác Phú Quí liên tục, anh yêu mất rồi chú ạ!
Mình bẩu:
- Gớm bác yêu gì mà yêu, rượu trong người bác nó yêu thì có, em mới là thằng đang yêu đây này! Hahaha…
Chuyện ở Phú Quí hẵn còn dài, mình sẽ kể lể tiếp vào lúc khác, giờ mình đi ngủ đây, mai còn tàu lượn lên Sài Gòn./...






























































Thứ Sáu, 4 tháng 5, 2012

“Nghe em hát ở Trường Sa”

Trưa nay, nằm nghe bài: “Nghe em hát ở Trường Sa”, lòng đang thấy lâng lâng, con Bảo mon men đến võng hỏi:
      -     Bài gì đấy bố?
Mình nghĩ nó mới 5 tuổi, nên trả lời lấy lệ:
      -     Bài hát đấy Bảo ạ.
Nó vẫn hỏi tiếp:
-         Nhưng hát cái gì cơ hở bố?
-         Thì hát về Trường Sa.
-         Trường Sa ở đâu cơ bố? Thế trường của chị Dương có là Trường Sa không?
Bó tay, mình không thể giải thích được cho nó hiểu thêm.
Đành chờ khi nào đi học Bảo nhé!
Nằm nghe đi nghe lại bài này, nhớ đến những ngày ra đảo.
Dưng mà ước mơ ra với Trường Sa vẫn còn đang nằm ở phía trước. Năm ngoái, mình và Béo đã bị đi hụt, danh sách có hết cả rồi, chỉ chờ ngày chính thức xuống tàu, đen đủi thế nào, cuối năm tuyền bão là bão, dính liền hai trận, thế là Tết. Cứ dài cổ chờ chuyến sau, chờ mãi đến tận giờ vẫn chưa được đi.
Nhưng bù lại, mình đã dăm lần bảy lượt đi các đảo gần như Phú Quí, Côn Đảo, rất ấn tượng vì tình người nơi đây. Chuyện này sẽ kể lể sau.
Giờ mình ủn lời của bài hát: “ Nghe em hát ở Trường Sa” cái đã.
Giai điệu ngọt ngào, xúc động. Mỗi tội mình chưa tìm ra được người sáng tác mà thôi.
Nghe bài hát thấy gai hết cả cột sống, tóc dần dựng lên và thấy yêu biển đảo của mình vô cùng, sẵn sàng xả đạn vào giữa mặt dững thằng nào dám đến cướp đảo. 

Lời bài ấy đây:

Ở Hội Lim, anh nghe em hát
Câu hát trao duyên người ơi, người về
Nay ở Trường Sa, nghe tiếng hát em
Câu hát người ơi, người ở đừng về
Trường Sa, mênh mông biển và ầm ào gió cát
Có tiếng hát em ngân vang
Trường Sa, anh đứng gác canh giữa trời đảo nhỏ
Dáng quê nhà xanh thắm đảo Trường Sa
Trường Sa, núi đảo quê hương gầm gào sóng dữ
Anh vẫn đứng nơi đây
Để nghe, tiếng hát em vang giữa trời đảo nhỏ
Thấy quê mình trong tiếng hát em...

Thứ Tư, 2 tháng 5, 2012

Đêm Sài Gòn

Đã hơn hai năm định cư trên đất phương Nam.
Dưng với đêm Sài Gòn mình không có nhiều.
Không bởi lẽ nhà mình cách đó khá xa, thường không đi bài vở, mình sẽ về Biên Hòa ngủ.
Ít thức đêm với Sài Gòn, dưng cũng không có nghĩa là mình thiếu kỷ niệm, cảm xúc...
Còn nhớ hồi 15 tuổi, lần đầu tiên cùng bố phiêu dạt về phương Nam, cái đêm xuống tàu ở ga Hòa Hưng, dù cảm giác chống chuếnh vì xa nhà và âm thanh của bánh xe lửa nghiến xuống đường ray vẫn còn vang bên tai, mình bắt gặp đêm Sài Gòn với sự ngưỡng mộ, thích thú kinh người.
Đường phố rợp đèn đủ thứ màu sắc, xe và người thành dòng bất tận.
Những tòa nhà cao tầng lung linh, huyền ảo trong đêm. Lúc đó không nghĩ mình đang ở nước mình, chỉ muốn biên thư về cho mẹ kể chuyện cho thỏa niềm thích thú.
Dững lần sau đó, có đêm Sài Gòn, cùng đám sinh viên đại học kinh tế thành phố lang thang khắp mọi nẻo đường, mới phát hiện, càng về khuya, Sài Gòn càng lộng lẫy hơn.
Năm trước, mình hưởng gần trọn một đêm trên du thuyền Đông Dương.
Số là hội doanh nhân báo chí quê nhà thành lập, có một bác đồng hương, người Tiên Lữ, kiều Đức, Giám đốc công ty thuyền buồm Đông Dương mở lòng mời cả hội lên du thuyền ăn nhậu, giao lưu.
Theo nhời bác ấy, chiếc du thuyền bọn mình lên là chiếc đầu tiên vợ chồng bác ấy đóng để khởi nghiệp.
Nghe đâu đặt ở Nghệ An, thời giá năm 2005 là 200 nghìn u ét xì đê. Còn giờ thì bác ấy có cả thảy 5 con nữa, đều hoành tráng hơn con này, chạy lông nhông khắp sông Sài Gòn.
Lục tục kéo nhau xuống thuyền, có tiếng bác nào hỏi như xóc ốc: - Cái này là an toàn hơn Dìn Ký đấy phỏng?
Mẹ kiếp, người ta đã cất công mời, cho ăn chùa, uống chùa trên con sông thơ mộng nhất Sài thành, giữa một đêm trăng sao vằng vặc lại còn bày đặt, ăn nhậu dư này có chết cũng đáng.
Mình thấy bác Giám đốc du thuyền vẫn trả lời từ tốn, nhẹ nhàng:- Thuyền của em lúc nào cũng mở cửa sổ, có tín hiệu bão giông là được đáp bến an toàn ngay!
Đêm ấy, giữa sông, thuyền chạy, uống bia ừng ực, mấy hồi đã thấy chuếnh choáng dưng mãi không say.
Trên thuyền, giữa đất trời phương Nam, nghe hát chèo, nhớ quê đến khổ.
Cái điệu "Luyện năm cung", "Quân tử vu dịch", "Đào liễu"  rồi "Con nhện giăng mùng"... làm cho các bác nhà mình mắt đờ đẫn đi vì buồn. Mình nhìn sang bàn bên, thấy có bác tóc "bán dâm" cứ rít thuốc tóp cả má. Phải rồi, đang khắc chế cảm xúc đây mà, rõ khỉ, cái kiếp lênh đênh đất khách nó ám vậy đấy!
Hỏi ra mới biết, bi giờ ở Sài Gòn, có rất nhiều gánh hát dư thế này từ Bắc vào lập nghiệp, phục vụ các bác xa quê.
Mới hay, cái gì người ta đang có thường không coi trọng, xa xôi rồi, đánh mất rồi mới thấy nuối tiếc.
Mình ngồi giáp cửa sổ con thuyền, nghe đến đoạn "ai xui con nhện nó mới giăng í i i mùng", thấy lòng rung lên bần bật, không uống nữa, làm điếu thuốc, lặng ngắm đêm Sài Gòn từ giữa sông.
Đèn hoa đủ các loại màu đua sắc, tòa nhà Bitexco to cao lừng lững in bóng xuống dòng sông, chen nhau với nó là hàng loạt dững hàng khủng khác nữa khiến cho mặt nước sông Sài Gòn lung linh đủ sắc màu.
Người và xe rầm rập dọc theo đường Tôn Đức Thắng. Trên sông, ban đêm cũng nhộn nhịp hơn cả ban ngày, hàng loạt du thuyền các hãng ngược xuôi, tây có, ta có ồn ào náo nhiệt trên boong, dưới khoang.
Lại có đêm Sài Gòn, đi trong mưa khuya, lạnh như đêm đầu đông Hà Nội, đường phố loang loáng ánh đèn, có mùi hương thân quen như hoa sữa, tìm mãi mà chẳng ra.
Dưng mà mình thích nhất dững quán ăn đêm ở quận Nhất, quán vỉa hè bình dân dưng mà đủ món để giải cơn say bia, rượu. Có người đàn ông mù cả hai mắt ôm Tây ban cầm hát phục vụ khách ăn đêm, không đòi bao nhiêu tiền, chỉ một cây đàn, người này ca được cả sáu câu. Bài nào trước 75 người này cũng thuộc, chỉ cần đọc tên hoặc câu đầu của bài hát là tiếng ca khàn khàn cất lên nghe nẫu ruột gan. Mình thích nhất người này hát Riêng một góc giời và Niệm khúc cuối...Chao ôi, chỉ có đêm Sài Gòn mới vậy mà thôi!
Đêm Sài Gòn có dững quán nhậu hát cho nhau nghe, sân khấu nhỏ bé, chỉ vài chiếc bàn đủ cho hai chục người ngồi cũng thành một nhạc hội mi ni đến suốt đêm. Có dững quán nằm khuất sâu trong hẻm dưng khách vẫn biết để tìm đến, hát hay không chẳng quan trọng, sẽ có rất nhiều người hát cho mình nghe, và chỉ có đêm Sài Gòn, trong những hẻm sâu vẫn vang lên những tình khúc dịu dàng, buồn tê tái của Ngô Thụy Miên, Trịnh Công Sơn, Lam Phương, Trường Sa, Lê Dinh, Phạm Đình Chương...
Sài Gòn...
Có đêm không ngủ...
Bởi trong lòng..
Khắc khoải nỗi nhớ thương.../..
Nghe Chèo giữa Sài Gòn


Du thuyền lung linh trên sông Sài Gòn


Đi ngang qua tòa Bitexco


Khoe dáng bên sông Sài Gòn














Kiếm tiền

Vào một đêm mưa mùa hạ, năm thứ hai sinh viên trường Luật Hà Nội.
Ba tuần nghỉ hè, mình quyết định về quê nằm, không lang thang cơ nhỡ nơi đâu, dù nằm một chỗ chỉ trong vòng 24h đồng hồ sẽ khiến mình như phát cuồng, chân tay, đầu óc như bấn loạn không yên.
Đêm ấy, nằm mãi chẳng thể ngủ, ngày ấy, quê mình điện đóm thất thường, hôm có, hôm không, chủ yếu nguồn sáng vẫn là dững chiếc đèn dầu.
Ngoài trời mưa dầm dề, đúng là mưa Ngâu, nước mắt của Ngưu Lang- Chức Nữ.
Chẳng hiểu sao, lọ mọ dậy đốt đèn và ngồi trân trân trước cuốn vở rách nát.
Và thế là mình viết như điên, như dại, tẩy tẩy, xóa xóa...
Khi gà gáy tàn canh, trời nhờ nhờ sáng, mưa thưa dần cũng là mình hoàn thành câu chuyện.
Bẵng đi gần năm giời, một hôm, mình vớ được thông tin trên tạp chí sinh viên thông báo cuộc thi viết về kỷ niệm sâu sắc trong cuộc đời học sinh-sinh viên.
Về nhà, lục lọi một hồi, tìm thấy câu chuyện mình hì hục viết trong đêm mưa hôm nào, ngồi nắn nót viết lại và gửi tới địa chỉ của Ban tổ chức cuộc thi.
Hai tháng sau, nhận được thông báo, câu chuyện của mình ăn giải đồng hạng, kèm theo 50 u ét xì đê cộng thêm một chiếc bút Parker bằng thép trắng, có khắc tên mình lên trên thân bút.
Mừng rú, vì lần đầu tiên được tiền bởi sự viết lách. Nhận được tiền và bút, hiện vật thì cất khư khư dưới đáy hòm, tiền thì được qui đổi và qui tiếp ra rượu.
Một bữa say bí tỷ, thâu đêm.
Cũng chẳng ngờ, từ đận ấy giở đi, thi thoảng lại kiếm được chút ít từ việc viết mà không lách ấy.
Để rồi 3 năm sau, chẳng chọn mà đi theo cái nghề cầm bút này.
Mình vẫn nhớ Ban tổ chức giải đặt lại tên cho câu chuyện của mình, đồng chí Ma Văn Kháng thì phê trên đầu một đoạn, đại khái như sau: " Chả ai thoát được tình yêu. Lưới tình giăng khắp nơi, sinh viên cũng vậy, ham hố, say đắm ra trò. Ở đây là cuộc tình sinh viên giữa chàng trai ngố chân thành và nàng, khôn ngoan già dặn chủ động. "Pha tình yêu này đặc sắc ở tình trạng nhân thế được giãi bày. Có những chi tiết rất hay: - Mượn một quyển sách trả lại cuốn sách khác. - Hoa hồng tặng ngày thứ 7. - Thái độ và lời bình của những người thân. Đời là vậy, viết được là cái thú thẩm mỹ. Chớ nên định giáo dục ai."
Và đây, câu chuyện ấy mình xin được ủn lên, nó được giữ lại nguyên xi không hề sửa chữa một chút nào!

Hoa hồng ngày thứ 7
"Người dưng ơi người dưng, một triệu người tôi gặp trong đời có ai là máu của máu tôi? Là thịt của thịt tôi? Chết vì tôi? Có ai sẽ sống vì tôi? Có ai không? Có ai là hoàng đế của tôi? Cũng là tử thần của tôi? Ai là tâm phúc của tôi? Cũng là địa ngục của tôi?"
                                                                                                                    (Nguyễn Huy Thiệp)

***
Quá khứ thường hay trở về với người ta vào lúc đêm đêm. Có thể là vui, cũng có thể là buồn, mà buồn thì nhiều hơn. Nó thường nhấm nháp người ta trong những lúc mất ngủ.
Từng hồi gió rên rỉ trên vòm cây, xen lẫn tiếng mưa tí tách, nhỏ giọt. Quá khứ quằn quại trong tim, trái tim vốn dĩ bé nhỏ, mềm yếu, đa sầu, đa cảm giờ thêm chật chội chỉ muốn vỡ tung ra làm trăm nghìn mảnh.
Trái tim hữu cơ, không phải là sắt đá, càng không to lớn như người ta vẫn thường tâng bốc, ca tụng cho nhau. Có chăng, những con người ấy là đá.
Hai mươi tuổi- người ta thường đau và vật vã vì tình yêu, cái bất hạnh muôn thuở của động vật cấp cao- loài người, mà trong đó chỉ tồn tại có hai giống: đàn ông và đàn bà, nhưng vô cùng phức tạp, từ đời cụ kỵ, ông bà, cha mẹ đến đời con cái, cháu chắt, chẳng ai có thể truyền lại được kinh nghiệm bất hạnh ấy cho ai.
Không thể là" Cơn mưa đằng Đông, vừa trông vừa chạy, cơn mưa đằng Nam, vừa làm vừa chơi" cho thế hệ hậu sinh cứ nhìn đó khắc biết. Kinh nghiệm tình yêu quả là chẳng giống thời tiết một chút nào.
***
Bộ tiểu thuyết dài tập về tình yêu đẫm lệ tôi cầm đọc giờ nát như rạ trong tay vì nó được hàng mấy mươi chục tâm hồn lãng mạn mới bước vào tuổi gàn dở thích khám phá bí ẩn, ham hiểu biết chuyền tay nhau đọc. Cũng chẳng có gì mới lạ hơn, cái mô típ muôn thuở như một công thức khoa học tự nhiên đến khô khan: Tình duyên, ngang trái, khóc sầu, ly biệt...
Xem xong cuốn truyện, tôi nằm ngửa mặt lên mái nhà suy ngẫm. Mình sẽ yêu, nhưng cái điều trong tiếu thuyết ấy sẽ không bao giờ xảy ra với mình, họ lãng mạn quá thì mới vậy. Tôi nhắm nghiền mắt lại, mơ đến một tình yêu tuyệt đẹp của riêng mình.
Thế là tôi bắt đầu yêu.
Một cô bạn cùng lớp, da không trắng, không đen, dáng người thuộc dạng trung bình: 1m58-45kg, hay cười, dễ khóc. Thích đọc tiểu thuyết về tình yêu, càng lâm ly dang dở và càng nhiều tập càng thích. Đúng là tâm hồn sinh viên văn khoa của các trường Sư phạm.
***
Tôi đưa cho nàng cuốn tuyển tập truyện ngắn của Môpatxăng, có rất nhiều điều thú vị về tình yêu- theo tôi nghĩ. Nàng đọc ngấu nghiến và trả lại cho tôi sau đúng 12 giờ đồng hồ ban ngày kể từ lúc tôi đưa. Cái miệng cười rất duyên và ánh mắt tình tứ chứng minh cho tình yêu rực lửa của hai đứa.
-"Còn truyện gì hay hơn nữa không?"
Tôi không thể hiểu được ý nghĩa của câu mà nàng vừa hỏi? Thán phục hay chê bai cuốn truyện?
- "Đọc luôn một mạch, đi ăn cơm cũng mang theo, không rời nó ở trên tay, xong là người ta trả luôn."
Thật là một tâm hồn văn học. Tôi sung sướng vì đã mang hạnh phúc đến cho nàng, đưa cả hai tay xin lại cuốn truyện. Nhưng ô kìa! Lạ quá, cuốn này dày hơn cuốn của tôi. Về đến nhà tôi mới dám xem lại đầu đề, hóa ra một cuốn tiểu thuyết dạng mấy nghìn bán đầy ở vỉa hè, tác giả là một người nội địa, cái tên giống như tên của các nhân vật thường gặp trong những thiên truyện ướt át, bi ai: Mộng Nga.
Chắc nàng nhầm lẫn cuốn truyện của mình rồi. Chuyện này chắc mỗi mình tôi biết, tôi đoán như vậy, nàng thì càng không biết, tôi sẽ chẳng kể cho ai và cho chính cả nàng nữa.
***
Cũng giống như bao câu chuyện tình trên đời, tôi tỏ tình và được đáp lại bằng một tình yêu nồng nhiệt, kèm theo một tràng tiếng Tây bồi mà nàng học được ở trên lớp trong chương trình phổ cập ngoại ngữ cho sinh viên: "Money-can't buy everything" để khẳng định cho tình yêu nồng cháy của hai chúng tôi.
Hoa hồng vào chiều thứ 7 trang điểm thêm cho tình yêu của hai đứa. Đôi khi mua vội còn có cả sâu bám trên lá, nhưng chẳng sao, sâu cũng không thể đục khoét được tình yêu rực lửa này. Lại những câu chuyện kể lể bên nhau thường đã cũ mà vẫn thấy hay.
Ròng rã theo tháng năm là mái tóc dài đung đưa ngang lưng, ánh mắt tình tứ và nụ cười không hề hà tiện của nàng theo tôi cả vào trong giấc ngủ.  
Bố tôi bảo:- "Này, học đi con ạ, chưa muộn đâu mà yêu với đương."
Ông tôi ho thúng thắng:-"Gặp duyên thì nên vợ, nên chồng lo cái gì."
Mẹ tôi khẽ thở dài.
Anh chị tôi nói với nhau:" Ông kễnh bắt đầu tập làm người lớn đấy, thiên đường của sinh viên mà!"
***
Cơn u mê thường làm cho người ta hoa mắt, nhất là trong chuyện tình, nhìn xa hóa gần.
Mặc kệ, có sao đâu khi người ta đang đắm chìm trong đam mê, nó đã ngấm vào máu trong người, tôi nghĩ và lẩm bẩm:
- Chả ai thoát được tình yêu.
Ba năm học trôi qua, điểm thi học kỳ của hai đứa hầu hết 5 với 6, không một môn nào khả dĩ được đến điểm 7, ngoại trừ bài kiểm tra Ngữ văn với đề tài: Tình yêu và sinh viên. Cả hai đứa đều đạt điểm 7,5.
Tôi bắt đầu lo cho kết quả học tập của mình.
Nhưng để bù lại cho cái sự học hành không được uyên bác ấy, tình yêu của chúng tôi ngày một nặng hơn, mãnh liệt hơn theo chiều tăng của cấp số nhân.
Chuyện một trăm năm cũng được đưa vào chương trình tính toán của chúng tôi. Thiên đường hạnh phúc hai đứa vẽ lên, màu mè tự pha trộn trông khá rực rỡ, lung linh. Tạm thời gác lại chuyện thi cử, học hành, phải tính đến chuyện tương lai trước đã chứ.
Nàng bảo tôi bằng một câu rất văn học lãng mạn: -"Người ta muốn có tương lai huy hoàng, hãy can đảm dẫm lên quá khứ đau buồn mà bước tới."
Lại một câu trong cuốn tiểu thuyết bìa in sặc sỡ nhiều màu nào đó.
***
Những bông hồng chiều thứ 7 lùi dần vào quá khứ. Những câu chuyện mỗi khi kề bên nhau tâm sự đã cũ mèm. Sự vuốt ve mơn trớn trở nên nhạt nhẽo.
Năm cuối cùng của đời sinh viên.
Nàng đã chán ngấy những chuyện ba hoa của tôi và có lẽ cũng chán ngấy những lời dịu dàng giả dối của chính mình. Kết quả thi cử thật bí bét.
Im lặng.
Con gái thường lớn trước con trai trong chuyện này. Tôi vẫn ngập trong men say, quên cả đoạn kết của cuốn tiểu thuyết bi thảm năm xưa.
Nàng bảo tôi:-"Mọi tình yêu đều phải dang dở."
Tôi đau đớn:-"Không thể có chuyện ấy xảy ra."
Nàng lạnh lùng:-"Biết làm sao được, phải vậy thôi."
Tôi choáng váng nhìn những bó hồng ép khô treo ngược nơi đầu giường tầng. Chồng thư đầy ắp thương nhớ của ngày xưa và chiếc bếp dầu lạnh tanh dưới gầm giường.
Đó là buổi liên hoan chia tay từ giã tuổi sinh viên của lớp.
Tôi thẫn thờ như kẻ mất hồn.
Sự thật vẫn là sự thật.
Bố tôi nhẹ nhàng nói với mẹ:-"Rồi nó sẽ quên dần đi."
Ông tôi ho nhiều hơn ngày xưa:-"Ý tình đấy cháu ạ."
Mẹ tôi thở dài hơn.
Anh chị tôi thì thầm:"Nó sáng mắt ra đấy."
Tôi cầm cuốn tiểu thuyết bi thảm rách nát năm xưa điền tên tôi và nàng vào thay tên hai nhân vật yêu nhau say đắm rồi châm lửa đốt cháy bùng bùng.
Một trận gió còn sót lại của mùa đông thổi tới, tàn tro bay lả tả khắp sân./..