Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2014
Ra trận…
Cay cay sống mũi...
"
Sân bay, tôi ngồi đợi chuyến bay muộn và đọc những dòng hồi ức của bạn bè tôi về ngày 17/02/1979. Đọc những kỷ niệm về không khí muốn ra trận của những chàng trai 17-18 ngày đó, tôi phát hiện ra một điều. Đối với tôi, sự chuẩn bị ra trận của bố nuôi tôi ngày ấy hoàn toàn khác!
Không như một số người bây giờ nói là Việt Nam hoàn toàn bất ngờ về việc Trung Quốc tấn công. Tôi nhớ rằng cả tháng trước ngày chiến sự nổ ra, khu tập thể Nguyễn Công Trứ, nơi tôi ở đã rục rịch chuẩn bị. Mọi người bắt đầu đào hầm hào ngay trong khu. Không có hầm chữ A như thời đánh Mỹ nhưng giao thông hào đào cũng ngập đầu và các hố cá nhân với khung bê tông tròn như thành giếng đâu đâu cũng thấy. Tôi còn nhớ mỗi chiếc hầm cá nhân đó sâu hai vòng bê tông, loại bê tông rẻ tiền mà chỉ cần đập gạch vào cũng sẽ vỡ. Ngày đó bố đẻ tôi đang ở Liên Xô, mẹ tôi đi làm từ sáng tới tối nên hầu hết thời gian không đi học, tôi lê la ở nhà bố mẹ nuôi ở bên cạnh. Buổi tối, bố nuôi tôi thường hay ngồi uống trà với các chú hàng xóm và câu chuyện thường liên quan tới một từ mà tôi không hiểu lắm “tái ngũ”. Bố tôi là bộ đội đánh Mỹ. Bố chiến đấu ở Tây Nguyên từ năm 1969 tới 1975. Năm 1979, bố mới phục viên được hơn 3 năm.
Tôi nhớ, mấy người hàng xóm thường hỏi “anh nghĩ họ có gọi anh tái ngũ không?” Bố tôi thường nghĩ một lúc rồi trả lời “Nếu đánh nhau, trên đó toàn là núi, pháo bắn khó, chủ yếu sẽ là súng cối. Tôi đoán sớm hay muộn, họ cũng sẽ gọi thôi.” Sau này tôi biết suốt 7 năm ở chiến trường Tây Nguyên, bố tôi là chỉ huy một trung đội cối 82 ly.
Ngày 17/02/1979, giữa buổi chiều, bố tôi từ nhà máy về. Đằng sau xe của bố chở hai bao tải lớn, một bao gạo và một bao khoai lang khô thái lát. Nhà máy cho bố về sớm để chuẩn bị. Bác quản đốc gọi bố ra chỉ vào hai bao gạo và khoai, nói “anh mang về cho chị và bọn nhỏ!”
Bố cẩn thận cất hai bao đó vào trong cái kho nhỏ của nhà và mở chiếc thùng gỗ lớn trên gác xép ra. Đối với tôi, cái thùng gỗ cũ kỹ với khoá to tướng đó giống như cái rương đựng đồ báu trong chuyện Đảo Giấu Vàng. Bố rất ít khi mở, và mỗi lần mở thì tôi chỉ thoáng thấy những đồ bộ đội trong đó. Nhưng với trẻ con ngày đó, tất cả những gì liên quan tới bộ đội đều như của báu.
Bố tôi lôi ra bộ quân phục Tô Châu mới toanh mới mặc vài lần. Bộ quân phục này bố được phát trong lễ diễu binh tại Sài Gòn sau ngày 30/04/1975. Sau đó là chiếc mũ tai bèo đã bạc, đã vá nhiều và có một vết đạn xuyên qua vành nón. Sau này tôi biết, bộ đội cũng có những điều mê tín. Bố tôi đã đội chiếc mũ đó hồi năm 1970, đơn vị bố chết nhiều, nhưng bố vẫn sống dù bị đạn xuyên vành mũ. Bố tin rằng chiếc mũ đó là bùa hộ mệnh nên ông vẫn mang theo khi ra quân.
Mẹ nuôi tôi về, đứng chết trân giữa cửa khi nhìn thấy bố giữa những đồ quân dụng trải ra trên nền nhà. Bố lừ mắt nhìn mẹ rồi nói “Nhà còn các con, đừng có mà đàn bà!” Mẹ tôi lẳng lặng đi nấu ăn. Ăn xong cơm tối, mẹ tôi lấy chiếc ba lô của bố tôi ra khâu vá. Anh hai và chị ba tôi thì im lặng, nhưng anh út và tôi thì vui như Tết. Tôi tò mò hỏi hết thứ này đến thứ khác về các đồ quân dụng của bố. Bố giải thích một cách kiên nhẫn cho tôi. Cũng lạ là lúc đó tôi mới 5 tuổi nhưng 35 năm qua đến giờ tôi vẫn còn nhớ như in từng thứ đó. Bố sẽ dùng chiếc bình-toong của Mỹ chứ không dùng đồ của quân đội phát. Chiếc bình-toong Mỹ khác với bình-toong do Trung Quốc sản xuất cho quân đội ta ở chỗ, mặt ngoài của bình phồng lên nhưng mặt trong thì hóp nhẹ lại. Chiếc bình-toong đó đi cùng và lắp vừa khít vào một chiếc gà-mèn. Chiếc gà-mèn lại có một cái tay cầm sắt nhỏ có thể gập lại được và rất thuận tiện để cài vào chiếc xanh-tuya Mỹ khổ lớn bằng vải bạt. Điều đó giúp cho người lính không phải có một bộ dây khác để đeo tòng teng khi dùng bi-đông Trung Quốc. Chiếc xanh-tuya khổ lớn của Mỹ đó là vật yêu thích của tôi. Nó có một chiếc khoá thép rất đơn giản hình như cái mỏ neo giúp cho việc đeo vào và tháo ra chỉ trong tích tắc. Bố tôi giải thích cho tôi rằng, người lính Mỹ dùng chiếc xanh-tuya đó có thể đeo rất nhiều vật nặng khi hành quân (lựu đạn mỏ vịt, lựu đạn cài, bình-toong nước, súng ngắn, và nhiều thứ khác). Chiếc xanh-tuya đó khi mới đeo thì lỏng nhưng càng đeo nặng thì càng ôm chặt vào người – và đặc biệt là nó hơi trễ xuống, mắc vào mông người lính. Với chiếc thắt lưng Trung Quốc mà bộ đội ta dùng, muốn không bị tụt quần khi hành quân, người lính sẽ phải thắt chặt. Với chiếc thắt lưng bản nhỏ, thắt chặt vào hông mà lại treo vật nặng khi hành quân xa, da hai bên hông sẽ trầy xước hết.
Tôi nhớ bố tôi cẩn thận lấy một miếng vải màn nhỏ, cuộn tròn lại và nhét vào trong bình-toong nước. Bố ở Tây Nguyên 7 năm. Mỗi khi vào mùa khô, người lính đôi khi phải đi cả ngày đường mới tìm được nước. Bố giải thích là bình-toong nước vào mùa khô ít khi đầy. Khi hành quân, chiếc bình-toong với nước ngang lưng bình mà không có cuộn vải màn bên trong sẽ gây tiếng óc ách. Tiếng động đó, đôi khi sẽ khiến người đeo phải trả giá bằng máu. Cuộn vải màn nhỏ còn có tác dụng khác là sử dụng để cho thương binh ngậm vào khi khát nước. Bố tôi nói, Tây Nguyên mùa khô, suối sông cạn hết. Người lính bị thương vào mùa này (mùa của hành quân và đánh trận) sẽ khát khủng khiếp. Nếu đưa một chiếc bình-toong cho họ uống, họ sẽ tu một hơi đến khi không còn một giọt. Người lính bị thương sẽ bị chết vì mất máu (do uống nước quá nhiều) và người khênh họ sẽ kiệt sức vì khát mà hết nước.
Những năm ở Tây Nguyên khiến cho bố tôi có những kinh nghiệm sinh tồn mà quân đội không dạy. Ông đi xin được ở đâu về một cuộn nhỏ dây cước và làm một chùm lưỡi câu từ dây thép. Ông bảo mẹ tôi may một cái túi nhỏ phía trong ba-lô và nhét chùm lưỡi câu và sợi giây cước vào đó và khâu lại. Bố tôi kể, hồi chống Mỹ, bộ đội rời miền Bắc được trang bị rất đầy đủ. Thế nhưng khi vượt Trường Sơn, leo dốc kinh khủng quá, tân binh vất hầu hết mọi thứ đi cho nhẹ. Họ chỉ thấy hối tiếc về việc đó khi đã vào tới chiến trường và đói vàng mắt. Bố tôi cầm cái chùm lưỡi câu cho tôi xem và nói “ở trên núi kiểu gì cũng phải có suối. Có suối, có nước thì có cá. Có cá, có nước là đủ để sống!” Bố tôi bảo mẹ tôi khâu dấu những đồ nhỏ lặt vặt như miếng cao hổ cốt và cái mật gấu mà ông nội cho vào mặt trong của ba-lô để “mình vừa không quăng bừa đi, vừa khỏi có thằng lỏi nào nó lấy mất”.
Tôi nhớ hôm sau mẹ tôi lên ông ngoại ở Ngọc Hà mua một ít thịt. Mẹ làm ruốc. Mấy anh em chúng tôi sung sướng vô cùng ngồi chầu rìa và xin xé ruốc. Tôi xé thì ít nhưng ăn vụng thì nhiều. Ruốc xé rất tơi ra xong rồi thì mẹ tôi lại lèn vào một chiếc hộp nhôm hình tròn (cũng là đồ chiến lợi phẩm của Mỹ mà bố tôi mang về hồi ra quân). Mẹ lèn rất chặt toàn bộ số ruốc đó rồi cất lên tận nóc tủ. Tôi nhớ, buổi tối, khi ngồi ăn, tôi cứ ngước lên nhìn cái hộp ruốc đó. Bố tôi thấy ánh mắt tôi bèn quay ra hỏi mẹ tôi cái gì trên đó. Khi biết đó là ruốc mà mẹ tôi làm để cho bố tôi mang theo ăn dần, bố bực mình mắng: “Con nó thèm thì mẹ cứ cho chúng nó ăn. Còn bố mà có đi thì đã có tiêu chuẩn quân đội nuôi!” Mẹ thì rơm rớm nước mắt vì bị mắng còn chúng tôi thì sướng rơn người vì được ăn ruốc. Đến giờ, tôi vẫn nhớ mùi ruốc thơm nồng ngày đó.
Tôi nhớ, vào hôm sau, bố tôi ở nhà. Khi mẹ tôi đi làm rồi, bố mới mở hòm lấy ra một khẩu Colt .45 và một hộp giấy đầy đạn của Mỹ. Hồi đó tôi nhớ, những viên đạn K54 hay AK-47 đã rút thuốc đạn mà tôi hay được các cậu tôi cho làm đồ chơi thường có vỏ màu nâu sậm hoặc màu xanh lá cây rất tối. Những viên đạn đó có các-tút là sắt và hay rỉ. Thế nhưng những viên đạn Mỹ thì có màu đồng vàng óng, nhìn rất bắt mắt. Bố tôi lau súng rất kỹ, lên quy lát loạch xoạch, lau từng viên đạn rồi mới cất súng vào bao. Bố dặn tôi rất kỹ là không được nói với mẹ chuyện bố lau súng. Sau này, khi tôi khoảng 10 tuổi và có lần lấy khẩu súng không đạn đó ra chơi. Bố trông thấy liền mang đi nộp cho chú công an khu vực. Khi thấy tôi buồn, bố tôi kể cho tôi về khẩu súng đó.
Đó là khoảng năm 1970, mặt trận Tây Nguyên sau Mậu Thân rất khó khăn. Bộ đội đói dài và tổn thất nặng. Có một trận trung đội cối 82 của bố tôi đi yểm trợ cho tiểu đoàn đánh một đơn vị Mỹ mới đổ bộ. Trận đánh giằng dai kéo dài mà không dứt điểm được. Đến xế chiều, cối hết đạn, bố tôi được lệnh rút. Khi rút ngang qua một cái trảng thì bất chợt ba chiếc trực thăng bay tới. Trung đội kịp chạy vào bìa rừng và nằm im ở đó. Thế nhưng có một cậu lính trẻ mới vào chiến trường, lần đầu thấy trực thăng Mỹ bay sà thấp ngang ngọn cây nên sợ quá không chạy được. Cậu ấy nằm rúm ró trên trảng trống. Một trực thăng hạ xuống và tóm cậu lính đó lên máy bay. Ba chiếc lượn vòng quần thảo trên đầu. Chỉ vài phút sau, tự nhiên tiếng loa từ trên trời vọng xuống giọng cậu lính kia mếu máo “anh Tr… ơi, ra hàng đi không nó giết chết hết anh Tr… ơi!” Bộ đội nằm im vì trên mỗi chiếc trực thăng đó có 2 khẩu súng máy Gatling 6 nòng đang chĩa xuống. Mấy chiếc máy bay cứ bay vòng sát trên các ngọn cây. Tiếng gào thảm thiết của cậu lính từ trên vẫn vọng xuống “Ối anh Tr… ơi, em cắn rơm cắn cỏ lạy anh. Anh không cho anh em ra hàng thì nó đạp em xuống, anh Tr… ơi!” Mấy chiếc trực thăng bay lượn vòng thấp, cánh quạt thổi tung tất cả cỏ với cành lá nguỵ trang ở dưới lên. Cứ mỗi lần thấy một người lính nào đó nấp ở dưới, súng Gatling lại nổ chát chúa. Tiếng súng CKC từ dưới nổ từng phát một lên rồi tắt ngấm. Cậu lính bị bắt ở trên thì cứ gào lên, tiếng kêu không ra tiếng con người “Ối ông ơi, ông đừng đạp con xuống, để con gọi anh Tr… con ra hàng. Ối anh Tr… ơi, em còn mẹ già, anh hàng đi cho em còn đường sống….”
Bố tôi nói rằng những năm 69-70, đơn vị cối của bố tôi chỉ được trang bị CKC. Bố tôi nói, ở Miền Bắc tuyên truyền cụ già bắn rơi cả phản lực Mỹ bằng súng đó, chứ ở Tây Nguyên, có dùng CKC bắn cả ngày trực thăng nó cũng chẳng rơi. Thế nên trung đội của bố tôi cứ nằm yên mà chịu trận. Ai bị lộ thì bắn lên trời xua địch chứ những người còn lại, toàn lính cựu, đều biết rằng nổ súng, lộ vị trí thì cả đơn vị đều chết.
Bố tôi kể là đến khi trời tối, trực thăng quay về căn cứ thì trung đội bố tôi chỉ còn lại 1/3. Thế nhưng, bố tôi nói, điều kinh khủng nhất là cái tiếng gào thét gọi hàng và xin tha chết của cậu tân binh trẻ ám ảnh trong đầu ông. Sau trận đó, bố tôi thề sẽ không bao giờ để bị bắt. Bố tôi nói, lính Mỹ và Sài Gòn thù lính cối 82 không kém gì thù lính đặc công và trinh sát. Cối 82, những năm đó là vũ khí sát thương mạnh nhất và đáng sợ nhất với quân Mỹ. Sau trận đó vài tháng, bố tôi được khen thưởng và ông đã đổi toàn bộ số thực phẩm được cấp (mà thực ra cũng chỉ là 1 hộp sữa đặc có đường) để lấy khẩu colt 45 chiến lợi phẩm do một người lính trinh sát mang về. “Súng đó không phải để bắn người đâu. Bố dùng nó cho mình con ạ!”
Tôi cũng nhớ bố tôi lên nhà máy da dày Thuỵ Khuê xin về một bộ dây da. Ông cẩn thận cắt và khâu thành một bộ dây nịt. Ông đeo vào người rồi lấy cái chảo quân dụng lớn mà mẹ tôi dùng để nấu cám lợn, buộc vào. Ông chạy đi chạy lại, đứng lên rồi nằm xuống với cái chảo lớn được buộc chặt bằng bộ dây da đó trên lưng. Tôi thấy kỳ lắm và hỏi. Bố tôi kể là hồi năm 71, đơn vị bố tôi có một cậu chuyên mang đế của khẩu cối 82. Cái đế đó là một cái chảo sắt nặng, dùng để chịu lực của nòng cối khi viên đạn bắn đi. Cái đế cối đó nặng nên cậu đó hay đeo trên lưng như cách các hiệp sỹ xưa đeo lá chắn trên lưng vậy. Có cái đế đó trên lưng, cảm giác rất an toàn vì đạn bắn thẳng cũng không xuyên qua được. Có một lần, đơn vị bố tôi bị trúng pháo toạ độ. Tất cả chạy nháo nhào, nhảy xuống các hố đạn pháo vừa nổ. Cậu lính mang đế cối cũng nhảy xuống một hố pháo. Pháo ngưng, bố tôi thấy cậu lính đã chết. Khi nhảy xuống hố đạn, anh đã ngã dúi đầu xuống đất, chiếc đế cối nặng trên lưng bị hơi đạn pháo đã bung ra khỏi đai vải đeo, mép của đế cối tuy không sắc nhưng với sức nặng của toàn bộ khối sắt đã cắt vát một phần sau gáy anh. Anh chết không kịp nói một tiếng. Tôi nói rằng bố là chỉ huy thì lo gì phải mang đế cối. Bố tôi trả lời rằng bị trúng phản pháo thì vừa phải khiêng thương binh vừa phải khiêng súng mà chạy. Lúc đó, sỹ quan hay lính cũng phải lăn vào bê súng hết.
Từ hôm đó, cứ đêm đến, sau khi ăn cơm xong, bố tôi lại nghe hết đài tiếng nói Việt Nam đến đài BBC về tình hình chiến sự. Trên chiếc bản đồ VN treo trên tường, bố cắm những lá cờ nhỏ màu đỏ và xanh, đánh dấu các tuyến phòng thủ của quân ta tiến lên hay lùi xuống theo tin tức chiến sự. Sau khi hết các bản tin, bố lại mở 2 cuốn sách cũ sờn gáy và mất cả bìa. Một cuốn, tôi nhớ tên là “yếu lĩnh cối 82”. Một cuốn khác không có bìa nhưng có dòng chữ “Quân-lực Việt-Nam Cộng-Hoà” ở ngay trên đầu. Đó là cuốn dạy cách bắn súng cối cá nhân M-79. Khi tôi hỏi bố đọc làm gì. Bố trả lời là làm gì cũng phải học, phải ôn luyện – bố đang ôn lại các cách bắn cối và M-79 từ thời chống Mỹ.
Tôi vẫn nhớ mỗi lần mẹ tôi giật thót khi nhìn thấy người đưa thư đến trước cửa. Sau này tôi nghĩ mẹ sợ người đó mang đến giấy gọi tái ngũ cho bố tôi. Tối tối, mẹ tôi lại giở ba-lô và quần áo lính của bố tôi ra khâu thêm chỗ nọ, đằn thêm chỉ chỗ kia. Chiều chiều, bố tôi về sớm, tìm cách sửa mọi thứ trong nhà. Bố tranh thủ lấy than về trộn với bùn rồi nắm thành từng bánh phơi để mẹ có đồ để đốt khi bố đi vắng. Tối tối, mọi người lại sang nhà tôi, uống trà rồi nói chuyện người này đã lên phòng tuyến sông Cầu, con nhà kia hôm nay đã nhận giấy nhập ngũ. Tối tối, xe tăng, xe kéo pháo và chở quân lại kéo nườm nượp từ ngã tư Vọng, qua Bạch Mai lên phố Huế, Tràng Tiền để qua cầu Long Biên lên phía Bắc. Tối tối, bố tôi lại chong đèn ngồi xem lại cách tính phần tử bắn. Cuối cùng ngày 18/3/1979, đài báo quân Trung Quốc đã hoàn toàn rút khỏi lãnh thổ Việt Nam. Hôm đó, bố tôi lại cất các thứ đồ thời kháng Mỹ vào hòm. Hôm đó, nghe bản tin xong, lần đầu tiên mẹ tôi bật khóc.
Năm đó, bố tôi 40 tuổi, bằng tuổi tôi bây giờ. Năm đó, mẹ tôi cũng trạc tuổi vợ tôi hôm nay. Năm đó, bố tôi, người cựu binh đã trải qua 7 năm đầy máu và gian khổ ở Tây Nguyên, lặng lẽ chuẩn bị cho ngày tổ quốc gọi ông một lần nữa. Năm đó, nếu tái ngũ, bố tôi sẽ để lại sau hậu phương một vợ và 3 con nhỏ (ngoài ra thêm một thằng con nuôi ăn bám là tôi nữa). Năm đó, ông lại lặng lẽ chuẩn bị khẩu súng ngắn cho mình để phòng trường hợp bị bắt làm tù binh. Năm đó, mẹ tôi chỉ khóc khi biết rằng bố tôi không phải ra trận.
Đối với tôi, việc chuẩn bị ra trận của bố tôi rất khác với những gì bạn bè tôi tả. Có lẽ là vì bố tôi là người đã từng thấy chiến tranh nên cách chuẩn bị ra trận của ông cũng khác./..
(Nguồn: Blog Beo)
Mùa đông
Đọc được bên nhà Phọt phẹt, thì ra thuở ấy, Thanh Hóa cũng đói dư xứ mình...
" Tôi sợ mùa đông lắm. Là cái sợ ám ảnh từ tấm bé. Cứ mỗi độ đông sang, khi cây xoan trước nhà thi thoảng rụng đi những cành vụn là lúc mẹ tôi sửa soạn áo bông, củi lửa và ổ rơm cho cả nhà tránh rét. Cái rét thời xưa cũng khác thời nay, là tôi nghĩ thế thôi chứ không hẳn là như thế. Cái thủa đói rách nó làm cái rét ngọt và tái tê hơn. Chứ như bây giờ no cơm nên ấm cật, thành ra cái rét mất đi cả phong vị và một chút sầu đông.
Nhà đông anh em nên manh áo cũng trở nên thừa thiếu. Thiếu là bởi sự chằng đụp của miếng vá vội, miếng chín miếng sống nham nhở trên nền vải vụn. Thừa là bởi những thứ xin được của người lớn hay thửa được từ phụ huynh. Bận những đồ đó vào hao hao như những con thú trong gánh xiếc nghèo, màu mè và chả ra lối lang gì cả.
Tôi lớn nhất nhà thành ra đồ tùy táng, à không, đồ tùy thân ( những thứ mặc trên người) luôn được ưu tiên thừa kế từ bố mẹ, rồi sau đó mới đến các em tôi. Chả dụ như cái quần ga - ba - đin phải xắn lên năm gấu, bụng phải thắt lá chuối hoặc dây chun cắt ra từ săm xe đạp thì mới không tụt. Nhưng hãi nhất là cái chỗ để móc chim ra đái thì lại trôi dạt nằm ất ơ ở đùi, đâm ra mỗi khi hành sự rất khổ. Là phải loay hoay tháo chun hay dây chuối thì mới tụt chim ra được, lắm phen buộc lối thắt cổ chó tháo mãi không ra nên nhắm mắt mà tè trong quần cho bớt giận. Hay như cái áo đại cán, gấu lúc nào cũng chấm gối. Hoặc cái ba - đờ - xuy còn chấm mắt cá chân. Tôi nhiều lần bảo mẹ sửa lại nhưng bà bảo không nên vì là còn mặc cho nhiều mùa đông kế tiếp. Thế thôi nên tôi kệ, gấu áo lúc nào cũng thâm và khai rưng rức vì đái phải. Dài quá, vén lên hổng nủi hehe.
Đấy là lo cho đôi chân và cái thân, chứ cái đầu và hai bàn chân thì cực nhọc lắm. Mẹ tôi moi đâu về được ít len gai, đan cho cái mũ trùm kín đầu chỉ hở hai con mắt. Cái thứ len này rất nhặm và cứng, nó y như sợi bì gai vậy nên đội vào đầu rất rát và khó chịu. Nhưng được cái ấm nên cũng cố công mà đội chứ cởi ra gió bấc nó táp cho thì mặt không bằng bẹn ông nhái.
Nhưng ngại nhất là đôi bàn chân, cái bộ phận nhỏ bé nhất cần được che chở. Nhưng có thể vì nó nhỏ bé mà người ta không mấy để ý chăng? Bởi tuy là nhỏ bé nhưng nó quyết định phần lớn cái nóng lạnh thân người. Nhưng cái thời đồng đao, cái lớn lao phủ bao còn chưa hết thì hai miếng bé tí làm nhiệm vụ di chuyển kia đã ăn thua gì. Tôi không có diễm phúc tất giầy nên chỉ được đi đôi gò Tiền Phong hàn nham nhở, lở lói như vết bỏng lâu ngày không liền thịt. Giời lạnh nên nó cứng ngắc, cọ quẹt vào ngón chân đau buốt. Tôi thì cứ đổ cho lạnh nên thế thôi, chứ đeo vào trông cũng ra dáng lắm.
Những sáng mùa đông nhưng vẫn phải dậy sớm, giấc mơ thần tiên của tôi cũng dậy sớm tái tê. Lợn gà cám bã chán chê rồi òng ọc ngụm nước muối súc miệng thay ăn sáng rồi mới được đi học. Trường không mấy xa nhà nhưng cuốc bộ trên đê cho gần đi năm bảy bước. Gió thổi tôi liêu xiêu trên những cánh đồng màu trơ gốc rạ. Vào học vẫn còn run vì cửa sổ và những lỗ thông gió hoác hơ. Bọn tôi phải làm nùn rơm thổi phù phù cho ấm. Vài đứa sang hơn, đốt than xoan vào cái ống bơ gỉ quay vèo vèo. Nhưng cũng chả xua đi được cái lạnh, tạo một tí khói cho lòng ấm lên thôi. Đôi khi cũng là trò chơi của một thời khờ dại.
Tối ngủ mẹ tôi giải rơm lót phên giường rồi phủ chiếu lên trên, nằm êm lắm. Rơm bà trữ từ đầu vụ gặt, toàn rơm nếp nên thơm thơm. Cái chiếu mỏng lại bị thằng thứ ba đái dầm nên mủn ra một hố rộng, tôi lần mò tìm hạt lép hạt chắc mà ăn chắt cho đỡ buồn tình. Mảnh chăn bông không vỏ thâm đen trong lớp vải màn đồng hạng. Bốn anh em tôi úp thìa nằm sưởi ấm cho nhau. Ấy thế mà thi thoảng cũng cãi vã rồi đánh nhau chí chóe vì cái tội kéo chăn phần ít phần nhiều. Những hôm đại hàn, bố tôi phải quạt một chậu than để gậm giường cho ấm đít. Có bận than đượm quá, tí nữa bốn đứa thành món thịt nướng trứ danh.
Hồi đó bà nội tôi còn sống. Cả mùa đông bà không đi đâu mà chỉ ngồi ru rú trong nhà bên đống củi gộc âm ỉ cháy. Bà mặc cái áo bông, quàng thêm cả cái chăn chiên, bó gối rung rung như sài giật mà xuýt xoa cho cái rét. Ngôn lời như bao mùa đông đi qua, đại khái như hừ hừ, sao mà rét thế. Hễ không có việc gì thì cả nhà lại quây bên đống lửa, tay xòe ra hứng chút hơi nồng, xoa xoa rồi vỗ bem bép vào má. Những thớ thịt căng ra, nứt thành đường như những vết chim di. Hanh khô lại thêm nứt nẻ nên khó chịu lắm nhưng chẳng thuốc nào bôi. Bà bảo bọn tôi đái vào tay rồi vã lên cho đỡ rát. Nước tiểu nó làm nên mặt mũi tôi như bây giờ và thi thoảng vẫn dùng lại bài cũ dù nhà không thiếu kem bôi. Thế nên có vai ấp má kề với tình iêu nào trong đông giá, xin đừng chê khai mà xa lánh tôi ra khà khà.
Một mùa đông tôi tắm nhõn ba lần, ứng với cái thai kỳ ( chu kỳ chứ nhỉ?) của thời tiết. Mỗi một bận thế tôi có cảm tưởng như là một cuộc tra tấn thời cổ sử kinh hoàng. Mẹ tôi đun một nồi nước to với năm bảy viên đá kỳ cho từng bộ phận. Tắm trong nhà thì ướt, xuống bếp thì không biết đun nấu vào đâu nên bà dựng phên bằng cót ra một nơi khuất gió làm nhà tắm. Bà pha nước cho âm ấm, thay vì tắm tay chân trước thì lại đè nghiến đầu ra mà gội. Bằng bồ kết thôi, bốn năm bận mà tóc vẫn rít không tài nào chải nổi. Sau đó mới đến các bộ phận khác, chỗ nào bà cũng rất tỉ mẩn và kỳ công, y như một gã đồ tể chuyên nghiệp làm lông một con lợn. Những nơi như mang tai hay bẹn và các kẽ móng chân bà dùng những viên đá kỳ nho nhỏ. Những chỗ lớn lao hơn bà dùng viên nhơ nhỡ thôi. Còn cái loại như lưng hay bụng bà dùng viên đại tướng, chà sát lên đỏ au cho bật máu mới thôi. Ghét nhiều lắm, mỗi bận tắm xong chúng bám thành lớp loang trên nền đất. Bà hay trêu là dùng bón cây còn tốt hơn cả phù sa. Tắm xong thời thích lắm, người cứ nhẹ bẫng đi. Và trong suốt cuộc tra tấn đó mỗi khi cần thêm nước sôi mà lũ em tôi bận nghịch nhau mang ra chậm thì khỏi phải tả các anh cũng hay, răng cứ gọi là đá vào nhau chan chát. Tôi có bận tí nữa còn cắn phải lưỡi. Mẹ tiên sư!
Nhiều đứa cùng trang lứa hỏi tôi sao mùa đông bây giờ không lạnh. Cái địt con mẹ chúng nó chứ, cơm diệu phủ phê nốc đẫy tễ, xênh xang áo mũ nhà lầu xe hơi, ngủ có gái tơ thơm nhức nhối thì lạnh nó chui vầu đằng đít chúng mày à hả hả? Các anh cứ phải nhớ cho, đói là rét. Giờ no đủ nên mọi nhẽ ấm áp lên là chuyện thường. Từ thời tiết cho đến...tình iêu, các cái. Cũng như tôi thôi, hơi béo nên đông giá bận độc mỗi cái sơ - mi xoàng và thêm cái áo vét mỏng. Tôi muốn cái giá lạnh kia đốt đi ít mỡ thừa. Nhưng các anh hãy nhìn những người cơm chưa đủ no, áo chưa đủ ấm thì thấy cái mùa đông vẫn nguyên si thôi. Khác là khác thế đéo nào? Có phỏng?
Thôi, tôi bồi hồi một tí đây thôi, tặng cho một tình iêu phương Nam nắng ấm. Ít ngày nữa tôi vào, đem cái giá lạnh đầu đông mà sưởi ấm lòng nhau. Tại sao không cho riêng em mà lại cho nhau?
Tại bởi cái lòng tôi cũng đang run rẩy lắm."
(Nguồn: Blog phọt phẹt)
Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2014
Thứ Năm, 5 tháng 12, 2013
Báo chí viết lách thế này đây
Lái xe say rượu, xế hộp tông liên hoàn hàng loạt xe máy
Vào khoảng 20h tối nay (5/12), tại khu vực ô chợ Dừa, quận Đống Đa, Hà Nội đã xảy ra vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng. Hiện 6 nạn nhân, có một cháu nhỏ đã được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Đống Đa trong tình trạng nguy kịch.
Trong khi đang có tín hiệu đèn đỏ tại nút giao cắt ô chợ Dừa, hướng Tôn Đức Thắng – Nguyễn Lương Bằng, thì bất ngờ chiếc xe ô tô mang biển kiểm soát 29A 694.92 mất lái lao thẳng về phía các phương tiện đang dừng đỗ.
Do bị bất ngờ đâm từ phía đằng sau nên một số xe máy bị húc đổ tung lên phía trước. Trong xe ô tô lúc này đang chở 2 người đàn ông. Tại hiện trường hiện nay có 3 xe máy mang biển kiểm soát: 88K4 - 5110, 88L1 - 11.595 và xe mang biển kiểm soát 29X7 – 071.71.
Ngay sau khi vụ tai nạn giao thông xảy ra, lực lượng cảnh sát giao thông khu vực đã nhanh chóng có mặt kịp thời để xử lý. Tuy nhiên lái xe quyết không chịu ra. Theo sự quan sát của phóng viên, lái xe mùi nồng nặc rượu.
Hiện lực lượng chức năng đang tiếp tục điều tra để làm rõ sự việc.
(Nguồn: infonet)
Hehehe!!!
Lái xe cố thủ trong xe hơi kín như bưng, phóng viên quan sát bằng mắt và thấy lái xe nồng nặc mùi rượu???? mắt của phóng viên thay mũi, bố khỉ phóng viên!!!!
Thứ Năm, 10 tháng 10, 2013
Nước mắt
Suốt từ chiều 4/10 đến giờ, nước mắt đã rơi nhiều mỗi khi đọc những thông tin về Đại Tướng....
Đại Tướng ơi, năm xưa Bác Hồ mất, con chưa kịp sinh ra, chỉ nghe lại, xem lại những hình ảnh đau xé lòng của người dân Việt trước sự ra đi của Bác.
Nhưng hôm nay, con đã tận mắt thấy nỗi đau của muôn trái tim dân Việt trước nỗi mất mát lớn lao của dân tộc.
Con kính mong linh hồn Đại Tướng thanh thản trên quê hương của Người....! con sẽ đến Vũng Chùa thắp nhang trước mộ Đại Tướng!!!!
Dạ Khúc
Cần đêm trắng để trút vơi lòng đầy
Cần thêm nắng để em nhìn vừa bóng tối
Cần thêm anh hỏi han cho giấc trưa em yên lành
Cần thêm những lần hẹn như cuối cùng
Cần tay níu để thấy anh còn gần
Cần môi nóng để biết lòng còn ấm cúng
Cần thêm anh, cần thêm cho những khi em lo sợ
Cần thêm yêu hay cần thôi biết yêu
Đã cần thế, thương thật rồi
Vẫn như anh còn xa rất xa
Vì đã vùi hết những ước mơ dịu ngọt
Em thêm cần anh đến muôn lần
Thế tình nhé, xin về gần
Nối thêm yêu thương vào với nhau
Tình có dậy sóng vẫn cứ xin tình nồng
Nối em vào anh chiếc hôn nồng....
Cám ơn nhạc sỹ và những ca sỹ đã thể hiện ca khúc này....
cuộc đời là gì???? người ta sống trên cõi đời này để làm gì??? khi cuối cùng cũng hòa vào đất....
Thứ Hai, 7 tháng 10, 2013
Còn có ai có thể lấy đi nước mắt của nhân dân nhiều như thế này không?
Mình lấy lại câu này trong mục ý kiến độc giả của Việt Nam Nét, có lẽ chẳng cần viết gì thêm khi mà tâm trạng của hàng chục triệu dân Việt đang đớn đau trước một cái chết hóa thành bất tử!!!!
Mình chỉ lấy lại những cảm xúc của muôn người khi vào viếng Đại Tướng tại số nhà 30 Hoàng Diệu trong những ngày qua, chỉ vậy thôi, cũng thấy Đại Tướng là của nhân dân. Sau Quốc tang này, sẽ có nhiều Quốc tang khác, nhưng nước mắt chắc chắn sẽ thôi không rơi nhiều như nhưng những ngày này!
Sau 44 năm, nước mắt cho một linh hồn bất tử lại đang chảy dài như sông…
… “Còn có ai có thể lấy đi nước mắt của nhân dân nhiều như thế này không?
Tất cả những gì mà chúng ta nhìn thấy hôm nay là lòng yêu nước và kính trọng những vị lãnh tụ vì dân vì nước.Những tấm gương ngàn đời sau dân tộc vẫn sáng để con cháu mai noi theo.
Nhiều hoa đến viếng Đại Tướng quá! mong các anh bộ đội sẽ trải một "đường hoa" đến tận nơi an nghỉ của Bác nhé!
Được QUỐC TANG đã khó, nhưng đươc NHÂN DÂN TANG thì năm 1969 một lần, lần này là hai….”
Thứ Sáu, 4 tháng 10, 2013
Vĩnh biệt Đại Tướng!
Đại tướng đầu tiên, Tổng tư lệnh tối cao Quân đội nhân dân Việt Nam Võ Nguyên Giáp qua đời lúc 18h09 ngày 4/10 tại Viện quân y 108 (Hà Nội) khi ông vừa bước sang tuổi 103.
Đại tướng qua đời vào 18h09 phút chiều 4/10, tại bệnh viện nơi ông nằm điều trị từ năm 2009. Mới cách đây hơn một tháng, Đại tướng bước sang tuổi 103.
Thi hài ông được chuyển từ khu chăm sóc đặc biệt đến nhà lạnh trong sự nghiêm cẩn của những người lính bồng súng.
Căn biệt thự cổ 2 tầng số 30 Hoàng Diệu (Hà Nội), nơi ông và gia đình ở vẫn sáng đèn trong đêm, các căn phòng đều để cửa mở. Khuôn viên trước nhà ông vẫn thẫm một màu xanh tĩnh lặng.
Ngay trong đêm, nhiều hãng tin lớn trên thế giới đã đồng loạt đưa tin Đại tướng trên vị trí nổi bật. Bloomberg dẫn lời Stanley Karnow, nhà báo kiêm nhà sử học và là tác giả một cuốn sách nổi tiếng về chiến tranh Việt Nam nhận xét: "Sau Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp là nhân vật quan trọng nhất trong lịch sử Việt Nam thế kỷ 20.Ông là một vị tướng tự học, và chìa khóa của tài chỉ huy quân sự của ông là chiến lược kiên trì bền bỉ tuyệt đối.
Tân Hoa Xã ca ngợi Đại tướng Võ Nguyên Giáp là vị anh hùng, là một huyền thoại ở Việt Nam. "Ông được người dân Việt Nam tôn kính, chỉ sau Chủ tịch Hồ Chí Minh", hãng thông tấn Trung Quốc đánh giá.
Trong khi đó, hãng thông tấn Mỹ AP cho hay Tướng Giáp nổi lên "là một lãnh đạo của đội quân áo vải, gồm những du kích quân đi dép xăng đan làm từ lốp xe, kéo từng cỗ pháo qua những ngọn núi để bao vây và tiêu diệt quân đội Pháp ở Điện Biên Phủ năm 1954". Sinh ngày 25/8/1911 tại huyện Lệ Thủy (Quảng Bình), Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vốn là một thầy giáo dạy sử đã trở thành "người anh cả" của lực lượng vũ trang Việt Nam, là Đại tướng đầu tiên, Tổng tư lệnh tối cao của Quân đội nhân dân Việt Nam.
"Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa; tranh thủ từng phút, từng giờ; xốc tới mặt trận; giải phóng miền Nam; quyết chiến và toàn thắng!" - Mệnh lệnh nổi tiếng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975.
Trong Kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Đại tướng trực tiếp chỉ huy nhiều chiến dịch lớn. Đặc biệt tên tuổi ông gắn liền với chiến thắng trong Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954) và Hồ Chí Minh (1975) - những bước ngoặt trong lịch sử dân tộc.
Sau khi đất nước thống nhất, Đại tướng là Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng (đến 1980); Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (1981 - 1991). Ông cũng là đại biểu Quốc hội các khoá I - VII.
Nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu lịch sử, quân sự trong nước và thế giới đều đánh giá Đại tướng là người toàn tài kể cả trong thời chiến lẫn thời bình. Ông đặc biệt được người dân Việt Nam nhiều thế hệ yêu mến, kính trọng bởi tài năng cũng như sự gần gũi, bình dị trong cuộc sống.
Trong Bách khoa toàn thư của Mỹ và của nhiều nước, tên và hình ảnh của ông được ghi lại như một trong những vĩ nhân quân sự hiển hách nhất.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp kết hôn lần đầu năm 1934 với nhà cách mạng Nguyễn Thị Quang Thái. Hai người có một người con là bà Võ Hồng Anh (1941-2009). Bà Hồng Anh là tiến sĩ khoa học và từng đoạt giải thưởng Kovalevskaia. Đại tướng tái hôn với giáo sư Đặng Bích Hà (con gái của giáo sư Đặng Thai Mai) sau khi người vợ đầu hi sinh vào năm 1944. Ông bà có 4 người con là Võ Hòa Bình, Võ Hạnh Phúc, Võ Điện Biên và Võ Hồng Nam./…
(Nguồn: vnexpress)
Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2013
Ôi người quê mình!!!!!
“Là một cán bộ quản lý báo chí - xuất bản, Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Hưng Yên từ khi còn rất trẻ, ít ai có thể ngờ rằng, Nguyễn Xuân Duy có thể từ bỏ công việc nhà nước để trở về với đồng quê, làm một anh nông dân chân lấm, tay bùn.
Duy năm nay 30 tuổi, xuất thân từ ngôi làng An Lạc, xã Đức Thắng, huyện Tiên Lữ (Hưng Yên). Quê anh thanh bình nhưng quanh năm “chiêm khê mùa thối”, nông dân làm lụng sớm khuya nhưng chỉ đủ ăn. Cũng vì cám cảnh bần nông nên Duy đeo đuổi nghiệp học để có cơ hội đổi đời. Năm 2006, anh tốt nghiệp ĐH Khoa học Xã hội Nhân văn với tấm bằng cử nhân Ngôn ngữ học trên tay. May mắn được vào làm việc tại Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Hưng Yên làm công tác quản lý báo chí - xuất bản (sau này, chuyển sang Sở Thông tin Truyền thông) và thi đậu công chức.
“Duy là một thanh niên dám nghĩ dám làm và dám chịu trách nhiệm. Mặc dù ban đầu gặp rất nhiều khó khăn, thua lỗ nhưng Duy vẫn kiên trì với con đường mình đã chọn và gặt hái được những thành công mà ít người làm được. Không chỉ là một ông chủ có tư duy làm giàu, Duy còn là một đoàn viên năng nổ, nhiệt tình với các hoạt động của thôn, xã”. - Anh Nguyễn Văn Cao, Phó Bí thư Đoàn xã Đức Thắng
Do tính chất công việc phải va đập hằng ngày với thông tin trên báo chí, truyền thông nên Duy đã tích cóp cho mình một phông kiến thức thực tiễn phong phú, đặc biệt là các mô hình phát triển kinh tế nông nghiệp. “Ngày nghỉ, tôi thường vác ba lô đi các tỉnh học nông dân cách làm ăn, ví như mô hình nuôi ba ba (Ninh Bình), sản xuất cá vược (huyện Tiền Hải, Thái Bình), vào huyện Đức Hòa, Long An để tham quan mô hình nuôi ếch thương phẩm”, Duy kể.
Quá trình đó đã giúp cho anh hình thành ước muốn làm giàu và làm chủ. “Nghĩ lại phận công chức thấy mình nghèo quá. Lương cơ bản (năm 2008 - PV) chỉ hơn 800.000 đồng, trong khi đó nhà lại cách cơ quan 15 km. Anh em đồng nghiệp vẫn bảo nhau: Nếu tính chi phí đi lại và ăn trưa thì chẳng còn gì. Trong khi đó ở quê nhà, bố (anh Duy - PV) đang ốm nặng. Mẹ đã khuất núi gần 20 năm. Còn vợ thì mới sinh đứa thứ 2 nên trăm thứ tiền đổ lên đầu”, Duy tâm sự.
Với 10 triệu đồng bố mẹ vợ vay hộ, anh quyết định đầu tư vào nghề nuôi ếch bởi kỹ thuật nuôi không phức tạp, thời gian nuôi ngắn, chi phí thấp, chỉ cần kết bè và căng lưới ở ao là nuôi được. Sau khi đã hoàn thành 6 lồng nuôi (mỗi lồng rộng 6m2), Duy mua 3.000 con ếch giống về thả.
Năm ấy ếch lớn rất nhanh, nhưng đầu ra bế tắc, không biết tiêu thụ đi đâu. Gia đình phải mang ra chợ bán lẻ với mức giá bèo bọt 18.000 - 22.000 đ/kg, trừ chi phí lỗ 5 triệu đồng. Tuy vậy, Duy không bỏ cuộc. Anh tiếp tục vay tiền mua 1 vạn cá rô đồng từ miền Nam đưa ra, nhưng khi thu hoạch chỉ được 3 tạ, vậy là hòa vốn. Duy nghĩ, bây giờ chỉ còn cách quay về với con ếch thì mới mong có lời. Nhưng, không phải nuôi ếch thương phẩm mà phải làm ếch giống, bởi nó ít chịu ảnh hưởng của giá cả thị trường. Anh mua 5 cặp ếch bố mẹ của một hộ dân xã bên với giá 500.000 đ/cặp về thả trong lồng lưới.
Năm đầu tiên ếch không đẻ. Tưởng rằng, mình lại thất bại thê thảm thêm lần nữa nên Duy có hướng chuyển sang con giống khác. “Cuối năm 2009, khi vợ tôi nhận được 5 triệu đồng chế độ bảo hiểm sinh con. Tôi bàn với cô ấy xây một cái bể to để nuôi cá chuối, ba ba với diện tích 40m2, nhưng chưa có giống nên tôi nuôi tạm ếch bố mẹ trong ấy. Kỳ lạ là nó đẻ trứng dày đặc, nở được 120 vạn nòng nọc.
Thành công bước đầu, Duy bay vào trong Nam liên hệ với một số trang trại ếch giống từ Long An, TPHCM mua thêm 50 cặp ếch bố mẹ hết 15 triệu đồng để phát triển trang trại. Tuy nhiên, vì không hợp khí hậu ngoài Bắc nên toàn bộ số ếch trên bị chết. Duy tiếp tục mua thêm 30 cặp nữa, nhưng càng lún sâu vào nợ nần vì thất bại.
Thấy vậy, chủ trại ếch trong Nam ngỏ ý muốn Duy thuê một cái ao rộng 1 ha để nuôi ếch con, phân phối giống cho thị trường miền Bắc giúp họ. Hai chuyến đầu tiên, do vận chuyển bằng tàu hỏa nên ếch giống chết hết. Từ các chuyến sau vận chuyển bằng xe tải nên đã đảm bảo được số lượng đầu con.
Cuối năm 2010, Duy xin nghỉ việc ở Sở Thông tin Truyền thông. Lúc này anh đã có trong tay 100 cặp bố mẹ chất lượng tốt, đủ khả năng cung ứng ếch giống cho thị trường. Anh cho biết: Mỗi năm ếch mẹ đẻ 3 lần. Khi ếch đạt 1 tuổi thì mỗi lần chỉ đẻ được khoảng 1.000 trứng. Còn khi đạt độ già 2 - 3 năm tuổi có thể thu được 3.000 trứng/lần đẻ. Do đó, việc quan trọng nhất là phải giữ được nó sống qua đông bằng cách tăng nhiệt độ nước hoặc đào hầm… Qua 3 năm phát triển, số lượng ếch bố mẹ của trang trại Duy đã lên tới 300 cặp, mỗi năm cung ứng ổn định cho thị trường khoảng 30 vạn giống, thu về khoảng 300 triệu đồng.
Hiện tại, ếch giống của Duy được phân phối khắp các tỉnh thành miền Bắc như: Nam Định, Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nội, Sơn La, Bắc Kạn, Lào Cai…
(nguồn: tienphongonline)
Tuy nhiên, đọc xong mình ngẫm, có nhất thiết phải nuôi ếch không????
hahaha….
Thứ Hai, 9 tháng 9, 2013
Chán như con cá rán
Quá tệ vì sự nghiệp nhậu nhẹt...
Đành nghỉ một tuần để lấy sức vậy.
Sáng nay buôn với hàng, không khí chán nản nói chung là rất chung chung, cho nên cũng chẳng có gì để mà chán!Mình nhặt cái này của ông Chế đặt vào đây cho đỡ buồn chán vậy:
Chao ơi!Thu đã tới rồi sao?
Thu trước vừa qua mới độ nào!
Mới độ nào đây,hoa rạn vỡ,
Nắng hồng choàng ấp dãy bàng cao.
Cũng mới độ nào trong gió lộng,
Nến lau bừng sáng núi lau xanh.
Bướm vàng nhẹ nhẹ bay ngang bóng
Những khóm tre cao rũ trước thành
Thu đến đây!Chừ,mới nói răng?
Chừ đây,buồn giận biết sao ngăn?
Tìm cho những xánh hoa đang rụng,
Tôi kiếm trong hoa chút sắc tàn!
Trời ơi!Chán nản đương vây phủ.
Ý tưởng hồn tôi giữa cõi Tang.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)