Hình minh họa không nhất thiết phải diễn sâu (Foto: Sơn Béo)
Thứ Ba, 26 tháng 9, 2017
Thứ Tư, 2 tháng 8, 2017
Nhân loại đã dùng hết lượng tài nguyên mà Trái Đất có thể đáp ứng
Theo phóng viên TTXVN tại
Geneva, tính đến ngày 2/8, nhân loại đã sử dụng hết lượng tài nguyên mà Trái Đất
có thể tái tạo trong 1 năm.
Như vậy, từ nay cho đến
31/12, người dân trên hành tinh sẽ phải “lạm quỹ” thiên nhiên để đáp ứng các
nhu cầu sống của mình, đó là thông tin từ tổ chức phi chính phủ mang tên Global
Footprint Network (Mỹ) và Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) công bố ngày
1/8.
Các tính toán của Global
Footprint và WWF xem xét lượng đến lượng khí thải carbon, nguồn tài nguyên tiêu
thụ trong các lĩnh vực như thủy sản, chăn nuôi gia súc, cây trồng, xây dựng và
sử dụng nước.
Năm ngoái, thời điểm nhân loại
dùng hết lượng tài nguyên mà Trái Đất có thể đáp ứng cho cả năm là ngày 3/8. Mặc
dù tốc độ sử dụng tài nguyên đã có xu hướng chậm lại từ 6 năm nay, thời điểm
mang tính biểu tượng này - ngày đánh dấu các nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ của
nhân loại đã vượt quá những gì Trái Đất có thể phục hồi trong một năm, "vẫn
tiếp tục tịnh tiến xa hơn so với mốc ngày 31/12".
Hạn hán miền Tây
Các tổ chức này cảnh báo để
đáp ứng như cầu của nhân loại, mỗi năm loài người cần tiêu thụ lượng tài nguyên
gấp 1,7 lần khả năng đáp ứng của Trái Đất và đi kèm với thực tế này là rất nhiều
hậu quả như tình trạng thiếu nước, sa mạc hoá, xói mòn đất, suy giảm năng suất
nông nghiệp, suy giảm nguồn dự trữ hải sản, rừng cạn kiệt, nhiều loài động vật
biến mất.
Global Footprint và WWF cũng
cho biết "các dấu hiệu đáng khích lệ" chỉ ra rằng nhân loại có thể đảo
ngược xu hướng lạm dụng tài nguyên thiên nhiên. Mặc dù nền kinh tế thế giới ghi
nhận tăng trưởng, "lượng khí thải CO2 gắn với tiêu thụ năng lượng không
tăng lên vào năm 2016 và đây cũng là năm thứ 3 liên tiếp như vậy,” điều này có
thể được giải thích phần nào bởi sự phát triển đáng kể các loại năng lượng tái
tạo trong sản xuất điện./.
(TTXVN)
Cô gái trẻ nhường ghế cho cụ ông...
Vào những ngày giáp tết, mỗi
con tàu từ Nam ra Bắc lại đông nghìn nghịt người chen kẻ lấn. Và trên chuyến
tàu từ Sài Gòn đi Hà Nội năm ấy có một cô gái gầy yếu, có lẽ chỉ trạc 20 tuổi.
Cô gái mảnh mai đứng nép vào hàng ghế trên toa tàu, vậy mà vẫn bị hành khách xô
đẩy làm cho nghiêng ngả. Ngay gần cô là một ông lão ngồi bên cạnh cửa sổ. Ông
đang vui vẻ kể với mọi người rằng ông thật may mắn khi mua loại vé đứng mà vẫn
tìm được một ô ghế trống trên tàu.
Nhìn thấy cô gái bé nhỏ giữa
đám người đông đúc, ông lão quan tâm hỏi: “Cháu gái à, cháu về đâu vậy?”
“Dạ, cháu về Hà Nam ông ạ”.
“Thế thì phải chiều tối mai
mới đến nơi, xa như vậy mà cháu phải đứng thế này thì chịu sao được! Thế này
đi, khi nào ông xuống cháu có thể ngồi vào đây.”
“Dạ, thế cũng được ạ. Cảm ơn
ông.” Cô gái nói với giọng nghẹn ngào, khuôn mặt tỏ ra đầy biết ơn.
Một lát sau khi nhân viên
soát vé đi kiểm tra, anh nhìn đi nhìn lại vé của cô gái rồi ngạc nhiên hỏi:
“Không phải vé của cô là vé ngồi sao? Tại sao phải đứng thế này?” Rồi anh liếc
về phía ông lão đang ngủ và hỏi cô: “Sao cô không nói với ông ấy? Chẳng lẽ ông ấy
không biết đó là chỗ của cô à?”
Cô gái mỉm cười, nhìn về
phía ông lão ra vẻ thông cảm: “Ông ấy chắc cũng 70 tuổi rồi, nếu để ông đứng
thì cũng tội…”. Cô cúi mặt xuống, hai má ửng hồng vì ái ngại.
Nhân viên soát vé gật đầu,
có lẽ anh cũng hiểu được tấm lòng của cô gái trẻ. Anh nhỏ nhẹ: “Đi theo tôi,
tôi có thể giúp cô tìm một chỗ ngồi”. Những người xung quanh đều nghe thấy, họ
khen cô tốt bụng và biết nghĩ cho người khác, rồi họ dẹp sang nhường lối để cô
đi.
Cô gái cúi xuống, lấy từ dưới
ghế ra cây nạng của mình…
Những người xung quanh vừa rồi
bị cảm kích tấm tòng lương thiện của cô, nay lại càng chấn động hơn nữa.
Người ta chọn “lương thiện”
– không phải vì họ yếu đuối, mà vì họ hiểu rằng “nhân chi sơ, tính bản thiện”.
Lương thiện, ấy chính là bản chất sơ khai và căn bản của loài người.
Người ta chọn “nhường nhịn”
– không phải vì họ đang chùn bước, mà bởi họ hiểu rằng “nhẫn một chút sóng yên
gió lặng, lùi một bước biển rộng trời cao”. Biết nhường nhịn, đó cũng là làm
giàu có thêm tâm hồn mỗi người.
Người ta chọn “bao dung” –
không phải vì họ hèn nhát, mà bởi vì họ hiểu bao dung là phẩm chất cao đẹp và một
phẩm hạnh cao quý.
Người ta chọn “hồ đồ” –
không phải vì họ thực sự ngốc nghếch, mà vì họ không muốn so đo hay tranh cãi.
Im lặng mỉm cười để quan sát sự đời mới thực sự là việc khó làm.
Người ta chọn “tha thứ” –
không phải vì họ không có nguyên tắc, mà bởi vì họ hiểu rằng người nhận được
tha thứ sẽ không cố tình phạm sai lầm lần nữa.
Người ta chọn “trung thực”,
có sao nói vậy – bởi vì họ hiểu rằng, nịnh hót xu bợ chỉ là đối phó, sự thật tuy
mất lòng nhưng đó là lời có trách nhiệm.
Người ta chọn “tình nghĩa” –
bởi vì đối với họ được ở bên bạn bè là cơ hội hiếm có. Trăm năm chỉ trôi qua
trong nháy mắt, vì vậy họ biết sống hết mình cho trọn tình vẹn nghĩa tới hơi thở
cuối cùng.
Ghi nhớ ân tình của người
khác, học cách giúp đỡ người khác, và biết sống hết mình vì mọi người. Trong cuộc
sống này, những tấm lòng bao dung và nhân ái luôn khiến lòng người phải cảm động.
Cho dù đó là ai, thân quen hay xa lạ, nhưng tình yêu thương trao nhau sẽ làm cảm
động đất trời. Họ chỉ là một cá nhân nhỏ bé, nhưng lại có thể dùng khả năng của
mình để giúp đỡ người khác và làm cho thế giới này trở nên ấm áp hơn.
(Nguồn: Internet)
Thứ Tư, 26 tháng 7, 2017
Thứ Ba, 25 tháng 7, 2017
Vì sao gần một nửa người Việt cùng mang họ Nguyễn?
Chắc hẳn ai cũng từng nghe hoặc từng quen biết một người
họ Nguyễn. Trên trường quốc tế, đó là một dấu hiệu nhận diện người gốc Việt.
Nhưng tại sao gần 40% người Việt lại có chung một họ Nguyễn này?
Nếu căn cứ theo tỉ lệ này, cứ ba người dân Việt Nam có ít
nhất một người mang họ Nguyễn. Những người mang họ Nguyễn trên toàn thế giới có
khoảng 90 triệu người, tức là nhiều thứ ba sau họ Lý và họ Trương của Trung Quốc.
Cấu tạo tên họ của người Việt khác với người Trung Quốc,
Hàn Quốc và Nhật Bản. Tên họ người Việt Nam phân thành 3 phần: Họ – tên đệm –
tên. Ở những trường hợp chính thức, thông thường người ta chỉ gọi tên. Tên người
thường là ba chữ hoặc bốn chữ, cũng có khi là 2 chữ (ví dụ Nguyễn Trãi).
Vậy thì tại sao họ Nguyễn lại trở thành dòng họ lớn nhất
và đông nhất ở Việt Nam? Có rất nhiều nguyên nhân lịch sử cho hiện tượng này.
Thời cổ đại
Vào thời Nam Bắc triều (420 – 589) Trung Hoa thiên hạ đại
loạn. Vì để lánh nạn mưu sinh, một bộ phận gia tộc họ Nguyễn sống tại An Huy,
Chiết Giang, Hồ Bắc… di cư sang Việt Nam.
Bộ phận người này sinh sống ở Việt Nam, qua thời gian đã
đồng hoá cùng dân bản địa để tạo nên thêm một bộ phận đáng kể người Việt có họ
Nguyễn. Sau đó vào thời Ngũ Đại (5 triều đại nối nhau cai trị Trung Nguyên: Hậu
Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu 907-960), dần dần lại có nhiều người
họ Nguyễn di chuyển về phía Nam, bổ sung thêm vào số lượng người họ Nguyễn bản
địa ở Việt Nam.
Sự phát triển của dòng họ lớn nhất Việt Nam cũng gắn liền
quan hệ với triều đại nhà Trần. Trước triều Trần là giai đoạn trị vì của nhà Lý
(1009 – 1225). Từ khi Lý Công Uẩn lên ngôi năm 1009 sau khi giành được quyền lực
từ tay nhà Tiền Lê đến khi Lý Chiêu Hoàng bị ép thoái vị để nhường ngôi cho Trần
Cảnh, tổng cộng là 216 năm.
Những năm đầu tiên, Trần Cảnh còn nhỏ tuổi, toàn bộ quyền
hành của nhà Trần đều do một tôn thất vai chú của Trần Cảnh là Trần Thủ Độ nắm
quyền. Trong thời gian này, Trần Thủ Độ đã làm một việc trực tiếp ảnh hưởng tới
tên họ của người Việt.
Đó là việc gì? Ðời Trần Thái Tông (1232), sau khi đã đoạt
ngôi nhà Lý, Trần Thủ Ðộ lấy lý do tổ nhà Trần tên Lý, đã bắt tất cả những người
họ Lý là họ dòng vua vừa bị hoán vị còn trốn lẩn trong dân gian phải đổi thành
họ Nguyễn.
Tuy nhiên ý đồ thật sự của Trần Thủ Độ là khai tử dòng
vua Lý để không còn ai nhớ đến họ Lý nữa. Còn lý do vì sao khi đó ông lại lựa
chọn họ Nguyễn để thay họ Lý, cho tới nay vẫn chưa được lý giải rõ, cũng có thể
đó là lựa chọn một cách ngẫu nhiên.
Tuy nhiên trong sử sách chỉ ghi chép lại đơn giản như
sau: “Sau khi nhà Trần nắm giữ quyền lực, tất cả những người mang họ Lý trong đất
nước đều phải đổi sang họ Nguyễn”.
Có một điều càng không thể tưởng tượng được, đó là đổi họ
đã trở thành một tục lệ của người Việt Nam thời cổ đại. Cứ mỗi khi một triều đại
mới được thay thế thì tất cả những người mang họ của triều đại trước sẽ phải sửa
thành họ Nguyễn. Trong lịch sử Việt Nam, đã từng có nhiều sự kiện như vậy khiến
số người mang họ Nguyễn đã nhiều lại càng nhiều hơn.
Năm 1232, nhà Lý suy vong, Trần Thủ Độ đã bắt con cháu của
dòng họ Lý chuyển sang họ Nguyễn. Khi Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần, ông ấy đã giết
hại rất nhiều con cháu họ Trần. Vì thế, sau khi nhà Hồ sụp đổ, con cháu của họ
Hồ vì sợ trả thù nên tất cả đã đổi sang họ Nguyễn.
Năm 1592, nhà Mạc suy tàn, con cháu của dòng họ Mạc cũng
lại đổi họ sang Nguyễn. Khi triều đại nhà Nguyễn nắm quyền năm 1802, một số con
cháu họ Trịnh cũng vì sợ trả thù nên lần lượt đổi hết họ sang Nguyễn, số còn lại
trốn lên Bắc sang Trung Quốc.
Trong luật pháp của nhà Nguyễn, những người mang họ Nguyễn
được hưởng nhiều đặc lợi, được triều đình ban thưởng. Vì thế các tội nhân cũng
theo đó đổi họ sang Nguyễn nhằm tránh bị bắt tội, hưởng thêm ân sủng.
Cùng theo sự thay đổi của các triều đại những người mang
họ Nguyễn càng ngày càng đông lên, cuối cùng lập ra triều Nguyễn. Triều Nguyễn
cũng là triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam.
Thời cận đại
Trước khi đề cập tới quãng thời gian này, cần nhấn mạnh một
đặc điểm của các dòng họ Việt Nam thời cổ đại. Vào thời cổ đại, dân chúng ở tầng
lớp thấp bình dân thường không mang họ, chỉ có các vương tôn quý tộc mới có họ.
Vào thế kỷ 19, khi Việt Nam trở thành thuộc địa của người
Pháp, lần đầu tiên người Pháp có cuộc điều tra về dân số với quy mô lớn nhất
trên khắp Việt Nam.
Trong quá trình điều tra họ gặp phải một vấn đề phiền phức
lớn, đó là: Đại bộ phận người dân ở tầng lớp thấp bình dân đều không có họ, nên
không có cách nào để thống kê tổng kết.
Vào lúc này phải làm như thế nào? Người Pháp liền nghĩ ra
một cách, trước đây triều Nguyễn chẳng phải là triều đại cuối cùng của người Việt
sao, vậy những người không mang họ đó để họ đều mang họ Nguyễn. Dòng họ này, bởi
thế lại được mở rộng với quy mô lớn chưa từng có thêm một lần nữa.
Kỳ thực cho dù không có người Pháp, họ Nguyễn vẫn là một
dòng họ lớn nhất Việt Nam, tuy nhiên để chiếm một tỉ lệ lớn 40% như vậy, không
thể không kể tới tác động của người Pháp.
Bây giờ, khi ra đường, bất kể gặp một người họ Nguyễn
nào, bạn hãy nói rằng họ đang có một tên họ đặc biệt nhất Việt Nam. Còn nếu
đang mang họ Nguyễn, có lẽ bạn nên đọc bài viết này.
(Nguồn: Kiên Định)
Mỗi mét vuông có ba thằng làm báo
Giám đốc Sở TT-TT Đà Nẵng
tính toán:
Đà Nẵng hiện có hơn 109 cơ
quan báo chí với hơn 800 người làm báo, trong đó 400 nhà báo được cấp thẻ.
“Không kể Hoàng Sa thì Đà Nẵng
có 0,85 người làm báo/1km2, còn kể cả Hoàng Sa thì có 0,65 người làm báo/
1km2”.
Mình không biết tính thế để
làm gì?
Lâu nay nghe dân gian nói:
"Một mét vuông có 3 thằng kẻ cắp", giờ nghe thêm: "Một km vuông
có hai phần ba thằng làm báo".
Hehe, Đà Nẵng khi nào cũng độc.
*
Nói qua thì cũng nói lại.
Cách tinh mét vuông là cách
tính cơ học và không khoa học, nếu tính thế thì Q. Hai Bà Trưng, Q. Đống Đa (Hà
Nội), Q.1 (TP Hồ Chí Minh) mật độ nhà báo có thể ngang với... kẻ cắp.
Trong số 800 người làm báo
nói trên, các cơ quan báo chí thuộc TP ĐN chiếm chừng một nửa. Các cơ quan báo
chí trung ương và địa phương khác chiếm một nửa nhưng họ tác chiến cho cả miền
Trung- Tây Nguyên nên cách tính trên càng sai.
Cái sai nhất về mặt quản lý
là không chỉ có chừng đó người làm báo, vì tính thêm "báo chí công
dân" thì số người làm báo đã ngang... kẻ cắp rồi.
Bí thư Nguyễn Xuân Anh nhận
định: "Bây giờ Đà Nẵng được cả nước quan tâm, chúng tôi đang bị đặt dưới
không những kính lúp mà kính hiển vi nữa".
Rất chính xác. Kính hiển vi
đó là các "nhà báo công dân". Tính coi: Mỗi nhà 4 người có 4 cái Fb,
đó là 4 cơ quan báo chí. Họ có mặt khắp nơi. Tự viết bái, link bài, xuất bản...
cập nhật từng phút,
Họ cũng là nguồn tin cho báo
chí.
Trừ các nguồn tin chính thống,
nguồn tin độc hầu hết các báo chạy theo mạng xã hội.
Kính hiển vi coi chừng cũng
thua!
(Xin bổ sung thêm: Tỉnh
thành nào chả thế!)
*
Nhưng mà, điều quan trọng nhất
không phải nằm ở chỗ bao nhiêu người làm báo mà nằm ở chỗ nguồn tin của họ.
Đó là thực tế đang diễn ra.
Đó là nội bộ của các cơ
quan. Nếu ở đâu nội bộ mất đoàn kết, thông tin được tuồn ra ngoài với mục đích
đánh nhau thì không cần chừng đó mà chí cần 1 nhà báo biết cũng đủ rồi.
Lúc đó bài họ viết lên sẽ
nhanh chóng được shae, nhanh một cách chóng mặt.
Quản lý báo chí thời kỹ thuật
số không nên tính cơ học là thế.
(Nguồn: Nguyễn Thế Thịnh)
Thứ Bảy, 22 tháng 7, 2017
Lời Phật dạy về tình yêu thương
Bản ngã luôn mong cầu tốt hơn những gì đang xảy ra.
Nó không cho ta cơ hội trọn vẹn với thực tại đang là. Vì vậy ta rơi vào phiền
não khổ đau. Nhưng chỉ cần ta buông mọi ý đồ muốn tốt hơn và trở về trọn vẹn với
những gì đang diễn ra, ta sẽ thấy mọi sự đều vô thường, tự nhiên đến rồi đi. Tất
cả đều có lý do, tùy duyên mà sinh khởi và cũng tùy duyên mà chấm dứt bất kể ta
muốn hay không.
Trong tình yêu thương không gì gắn bó và quyến luyến
bằng tình yêu nam nữ, bất cứ lời nói và cử chỉ nào, chúng ta cũng phải biểu lộ
sự yêu thương trong tương kính. Đã làm người dù trai hay gái phải biết tôn trọng
người mình đang yêu, cả thể xác lẫn tâm hồn. Mấu chốt của hạnh phúc gia đình
trong hôn nhân tình yêu, người con gái phải biết giữ gìn, khéo léo trong mối
quan hệ vợ chồng, cha mẹ và con cái nhằm nuôi dưỡng hạnh phúc lâu dài về sau.
Trong đạo Phật, lòng từ bi luôn gắn liền với trí tuệ.
Không hiểu nhau, không thể thương yêu trọn vẹn vì ta không thể cảm thông và tha
thứ, nhất là những người có quan niệm gia trưởng. Mỗi người đều có những nỗi khổ
niềm đau riêng, bởi áp lực của công việc và trách nhiệm đối với gia đình, nếu
chúng ta không thật sự hiểu về nhau, ngược lại sẽ không thương mà còn giận hờn,
trách móc. Vì sao? Vì cái ta của mình đã phình to ra. Ngay khi ấy ta sẽ không
thể cảm thông, chính vì thế tình thương của mình sẽ làm người khác cảm thấy,
khó chịu, bức xúc và khổ đau.
Chúng ta đến với nhau mà không có hiểu biết, vô
tình sẽ làm người mình yêu thương, đau khổ suốt đời. Hiểu biết chính là nền tảng
của tình thương yêu chân thành. Không hiểu biết, chúng ta không thể thật sự
thương yêu nhau. Trái tim của ta nếu có hiểu biết, thì tình yêu thương sẽ là nền
tảng vững chắc và lâu dài.
Muốn thương yêu phải có hiểu biết
Phật dạy về tình yêu rất sâu sắc và có ý nghĩa.
Tình yêu phải có sự cảm thông và tha thứ, bởi bốn yếu tố: từ, bi, hỉ, xả.
“Từ” theo nghĩa nhà Phật là đem niềm vui đến cho
người, còn từ ở đây khả năng hiến tặng hạnh phúc cho người mình yêu. Yêu thương
chính là chất liệu giúp cho con người sống có trách nhiệm hơn, yêu thương chính
là sự hiến tặng chân thành. Yêu mà làm khổ đau cho nhau không phải tình yêu
đích thực. Có những người khi lấy nhau một thời gian, bắt đầu phát sinh những bất
đồng về nhau cho nên nỗi khổ niềm đau làm tan nát hai con tim. Chúng ta yêu
thương ai đó thực sự, nghĩa là làm cho người đó được hạnh phúc, mỗi ngày.
“Bi” là khả năng giúp cho người mình yêu thoát ra
được những cái khổ trong hệ lụy. Mình đã khổ và đang khổ, mà người ta vẫn cứ làm
cho mình thêm đau khổ, đó là một thứ tình yêu không chân thật. Không có gì đau
khổ bằng trong cơn tuyệt vọng. Người mình yêu phải là người biết chia sẻ, biết
an ủi, để làm vơi bớt nỗi khổ niềm đau do hoàn cảnh đưa đến.
Như vậy, quan điểm “từ bi” theo đạo Phật là khả
năng hiến tặng để đem lại hạnh phúc cho nhau. Khi chúng ta yêu thương là phải
làm cho người ta giảm bớt khổ đau, tăng trưởng thêm hạnh phúc. Nếu không, chúng
ta chỉ là đam mê, say đắm trong xác thịt, không phải là tình thương chân thành.
“Từ bi” trong tình yêu được biểu cảm qua thái độ có hiểu biết nên mới dễ cảm
thông và tha thứ cho nhau. Muốn được như vậy chúng ta phải cần nhiều thời gian,
để quan sát, để lắng nghe, để thấu hiểu tâm tính của nhau và thương yêu chân
thành hơn.
“Hỉ” là niềm vui đích thực trong tình yêu, làm cho
hai con tim được hòa hợp và có sự rung động mãnh liệt. Dấu ấn khó phai của tình
yêu đích thực là có sự cảm thông cho nhau, cùng tạo sự hưng phấn để đạt được niềm
an vui, hạnh phúc.
“Xả” là không phân biệt, không kì thị trong tình
yêu trong vấn đề trọng nam khinh nữ. Mình thương yêu ai, hạnh phúc của người ta
là của mình, khó khăn của người ta là của mình, khổ đau của người ta là của
mình, vì ta và người đó là của nhau. Khi yêu nhau, hạnh phúc hay khổ đau không
còn là vấn đề của riêng tư, mà hai người phải có trách nhiệm để cùng san sẻ cho
nhau.
Vấn đề hạnh phúc hôn nhân phải do sự hòa hợp của
con tim và có sự thông cảm và tha thứ cho nhau. Học thức cao, kinh tế đầy đủ,
cũng chưa đảm bảo hạnh phúc gia đình mặc dù hai yếu tố này rất cần thiết trong
đời sống lứa đôi. Phật giáo chủ trương và khuyến khích mọi người tin sâu nhân
quả nghiệp báo, nhờ vậy ta sẽ biết cách cải thiện đời sống gia đình ngày càng tốt
hơn về mọi mặt. Do đó, những chuyện xảy ra cơm không lành canh không ngọt trong
đời sống lứa đôi là do chúng ta không chịu nhường nhịn nhau.
Chúng ta yêu nhau là giữ gìn cho nhau, kính trọng
nhau. Thân thể ta cũng vậy, có những vùng thiêng liêng và riêng tư, ta không muốn
ai chạm tới, ngoài người ta yêu, ta tin, ta muốn sống và dâng hiến trọn đời, trọn
kiếp mà thôi.
Tình yêu là gì?
Tình yêu đích thực là vô điều kiện, là cho đi mà
không mong cầu đáp trả. Thậm chí khái niệm cho và nhận không tồn tại, chỉ còn sự
tương giao một cách trọn vẹn và vô ngã. Tình yêu nam nữ phổ biến hiện nay chỉ
là sự trao đổi, mà hàng hóa chính là cảm xúc và cảm giác của hai bên. Khi còn ảo
tưởng về cái tôi thì không thể xảy ra tình yêu đích thực, vì thế nào cũng có điều
kiện nào đó hiện diện. Tình yêu lúc đó dù bắt đầu có nồng thắm đến đâu, dù cảm
xúc có mạnh mẽ đến đâu cũng thật mong manh. Vì chỉ cần xuất hiện yếu tố bên
ngoài làm cảm xúc - cảm giác của một bên thay đổi, thế là bão táp phong ba liền
ập tới.
Khi ta yêu một người tức là ta yêu luôn cả mặt tốt
và mặt xấu của người đó. Xấu và tốt như hai mặt của một bàn tay. Ta không thể
chỉ giữ lấy một mặt mà bỏ đi mặt kia. Ta luôn tự vẽ ra cho mình một hình ảnh về
người mình yêu hay người chồng/vợ của mình. Nhưng đó chỉ là ảo tưởng của ta,
không phải con người thực. Vì vậy ta cần nhẫn nại lắng nghe, quan sát và chia sẻ
để có thể hiểu rõ về người bạn đời của mình. Khi thấu hiểu cả mặt tích cực và
tiêu cực của người ấy, ta mới có thể yêu thương họ thật sự.
Khi ta thật sự yêu thương một người thì người đó sẽ
cảm thấy tự do để được là chính họ. Tình yêu đích thực không ràng buộc đối tượng
được yêu mà còn là động lực để cho họ đổi mới chính mình. Khi có biến cố xảy ra
thì phụ nữ vẫn là người chịu thiệt thòi nhiều hơn, nhưng họ cũng dễ buông bỏ tư
kiến của mình hơn. Nếu cô gái biết chấp nhận chàng trai như anh ấy là, thì sẽ
có cơ hội để chàng trai thay đổi thái độ của mình.
Quy luật của cuộc sống là vô thường, kể cả tình yêu
đôi lứa. Nếu ta đủ nhẫn nại để quan sát, ta sẽ thấy rõ, vị đắng, vị ngọt của
tình yêu. Thấy rõ nó sinh ra và mất đi như thế nào. Và khi hiểu rõ, ta sẽ không
còn bám chấp vào hôn nhân nhưng cũng không sợ sệt hôn nhân nữa. Ta có thể làm
giấy kết hôn với người mình không hề yêu và cũng có thể nhắm mắt ký giấy ly hôn
khi mình vẫn còn yêu tha thiết. Hôn nhân hay ly hôn vốn chỉ là hình thức, là một
bản hợp đồng mà thôi. Làm sao nó có thể ràng buộc được tâm ta? Quan trọng là
khi có biến cố xảy ra, ta cần đối diện với chúng bằng thái độ sáng suốt và
trong lành. Vì biến cố đó là như ý hay bất như ý cũng là cơ hội cho ta hiểu
thêm về chính mình, về người mình yêu. Và từ đó nhận ra bản chất thật của tình
yêu, của cuộc sống.
Đừng tưởng xuất gia đi tu là ta có thể trốn thoát
được bài học tình yêu. Với hiểu biết mờ mịt không rõ ràng, bất cứ lúc nào ta
cũng có thể gặp vướng mắc tình cảm bất kể ta đang làm gì, ở đâu. Đức Phật có dạy
rằng chỉ có thể thoát ly một pháp khi ta đã tường tận mặt tích cực cũng như mặt
nguy hại của nó, khi ta nhận biết rõ từ khi nó sinh ra cho đến khi nó mất đi.
Nói đúng hơn, lúc đó nó tự thoát ly, chứ không ai làm gì cả.
Hãy nhớ điều quý giá nhất trong cuộc sống chính là
sự bất toàn. Vì khi toàn vẹn thì sự sống sẽ kết thúc. Sự bất toàn là một phần của
vô thường, một quy luật tất yếu của cuộc sống. Khi ta còn đang sống trong ảo tưởng
về bản ngã, về cái tôi và cái của tôi, thì bản ngã luôn cầu toàn và nỗ lực để
được như ý. Nhưng những gì nó nhận được từ cuộc sống đều là bất toàn và bất như
ý.
Sau những cố gắng và nỗ lực vô vọng, nhờ sự bất
toàn ấy mà cuối cùng bản ngã cũng đầu hàng. Ta bắt đầu sống vô ngã vị tha và tự
nhiên ta thấy sự bất toàn lại chính là động lực để phát triển và tiến hóa của vạn
vật. Chính vì mọi thứ đều bất toàn mà ai cũng có cơ hội làm mới bản thân mình.
Bản ngã luôn mong cầu tốt hơn những gì đang xảy ra.
Nó không cho ta cơ hội trọn vẹn với thực tại đang là. Vì vậy ta rơi vào phiền
não khổ đau. Nhưng chỉ cần ta buông mọi ý đồ muốn tốt hơn và trở về trọn vẹn với
những gì đang diễn ra, ta sẽ thấy mọi sự đều vô thường, tự nhiên đến rồi đi. Tất
cả đều có lý do, tùy duyên mà sinh khởi và cũng tùy duyên mà chấm dứt bất kể ta
muốn hay không. Tất cả những thiện - ác trong đời đều "Bất khả tư
nghì", tùy hoàn cảnh, tùy đối tượng mà nó được gán cho cái nhãn "thiện"
hay "ác". Dù những gì đang xảy ra là thiện hay ác, nó đều là bài học
giác ngộ vô cùng quý giá về cuộc sống.
(Thích Đạt Ma Phổ Giác)
Thứ Ba, 9 tháng 5, 2017
Thằng Tiến Xóm
Mình gọi nó
vậy vì quen mồm, bố nó tên là Xóm. Ngày học cùng lớp 10, mình thân với nó và thằng
Hoa điên. Thằng Hoa điên, vì sao gọi nó là như vậy và không còn thân thiết với
nó như ngày xưa nữa mình sẽ kể sau. Còn bây giờ mình kể chuyện thằng Tiến Xóm.
Nó quê ở
Phù Ủng, cùng quê với một đồng chí danh bất hư truyền, họ Phạm, tên Lão, đệm
Ngũ. Ông này nổi tiếng vì cản đường vua đi, cho dù bị giáo đâm thủng đùi vẫn điềm
nhiên ngồi đan sọt. Chẳng biết hồi đó sọt đan xong đựng gì?
Ngày ấy, học
hết cấp 2, thi lên lớp 10 gọi là vào cấp 3, những thằng thi có điểm đạt do
nhà trường đặt ra được chọn vào lớp A, một trong những mầm mống, phôi thai của
căn bệnh thành tích ngành giáo dục lúc bấy giờ, đó là vào giữa những năm 198X
gì đó!
Mình thi,
và chẳng hiểu sao cũng đủ điểm vào lớp A của trường, chắc do ăn may, bởi mình học dốt, chỉ ham đá bóng…
Hơn bốn chục
mạng của lớp, chẳng hiểu sao, mình lại thân nhất với nó, khi ấy, bọn cùng lớp gọi nó là thằng
Tiến vổ, hỗn danh ấy là bởi nó có hai cái răng cửa vừa to, vừa dài thò ra khỏi
môi, không chịu đứng cùng hàng với những chiếc khác, bởi vậy, lúc nào cũng như thấy nó cười. Giờ kiểm tra miệng, không thuộc bài, nó đứng như tượng mà vẫn bị thầy mắng vì tưởng cười cợt trêu thầy...., thế nên, cái bộ dạng của nó, đi đám cưới còn được, chứ đám ma chắc no
đòn.
30 năm trước,
đất nước đói, đói đến nỗi cứ gặp nhau, câu mở miệng chào nhau là: ăn cơm
chưa? Để đến bây giờ vẫn theo thói quen ngày ấy, mình gọi điện cho bất kỳ ai, mặc
dù là 11 giờ đêm vẫn hỏi ăn cơm chưa? Bố khỉ…
30 năm trước,
mình với nó tập tễnh bước vào lớp 10, nhưng thực ra là lớp 8 của hệ 10 năm, mỗi
thằng một quê, khác xã nhưng cùng huyện. thuở ấy, đi học bằng những chiếc xe cà tàng, không phanh, không chuông, không gác đờ bu....,sáng đi chiều về vật ngửa xe lên để chỉnh sửa, xiết ốc lại, sáng mai mới có xe để đạp, kịp đến trường học cho đúng giờ.
Thằng Tiến
hồi ấy còi ngang mình, chân ngắn, trọng lượng tất thảy, cộng cả quần áo, đôi dép cao su cắt từ lốp ô tô ra, chắc chỉ được gần 40 cân, nó đi cái xe thống
nhất đã cũ rich của bố nó, vừa đạp vừa với chân, khổ cực nhất mỗi khi lên và xuống
xe, luôn phải tìm cái mô đất đắp ở gốc cây nhãn trước cửa lớp học để lên, xuống xe.
Quen và
thân nhau, như không thể sống thiếu nhau, nếu như giờ, gọi là pê đê, đồng tính
luyến ái, bởi ăn, ngủ cùng nhau, không thấy gì là bất thường.
Nhà mình
nghèo, nhà nó cũng không khá gì hơn, chỉ độc nhất một bộ quần áo đi học. Nhớ ngày ấy,
áo nó chỉ có một, mặc nhiều, bạc cả lưng và rách đúng ở khoảng giữa của hai bả
vai. Bu nó lấy chiếc khăn mùi xoa khâu lại che kín chỗ rách đó, màu của chiếc
khăn và màu áo tương phản nhau như họa sỹ phối màu cực độc, nó ngồi bàn trước,
bọn bàn sau tha hồ trêu chọc.
Trường của bố mẹ được phân phối một loạt áo cho học sinh, mỗi gia
đình giáo viên được hai chiếc áo xanh sỹ lâm, một loại áo mà sợi vải như bao tải, cứng ngắc. Mình bảo nó về nhà, rồi xin bố mẹ cho nó một chiếc. Giờ nó vẫn
nhớ mà mình đã lãng quên.
Mùa hè nắng
chang chang, nó rủ mình ra nhà nó chơi, cầm giỏ ra cánh đồng sau làng nó, hí
hoáy một lúc đã lưng giỏ cua, bữa cơm chiều canh cua gạch đóng dày như bánh đúc chan với cơm gạo trắng thơm phức,
cái mùi hương của mướp và vị ngọt của gạo quê đến giờ mình không quên.
Những buổi
học thêm, cả lớp phải ở lại để kịp giờ học,
ra rặng nhãn bên con sông chạy dọc phố huyện ăn cơm. Mẹ nấu cơm, nắm cho mình
mang đi ăn trưa, gạo mậu dịch vàng như nanh chuột, nắm thế nào cũng không dính
lại với nhau, bở bùng bục, cộng thêm một chút mắm tôm mặn chát để mình ăn trước
khi vào học buổi chiều. Nó nhìn nắm cơm của mình và nhúm thức ăn màu xin xỉn, giữa những ngày
đông giá, bảo mình: Bu tao nắm nhiều cơm lắm, với cá kho nữa, mày ăn với tao
đi, nếu thiếu thì hẵng ăn sang cơm của mày.
Một năm học
cùng với nó là từng đấy bữa ăn trưa bên rặng nhãn sau phố huyện, hương vị của gạo
quê và cá kho tương bu nó làm giờ vẫn vẹn nguyên trong tâm khảm mình. Ngày ấy, mình ở tập thể của
trường cấp 2, anh chị đi học hết còn mình ở nhà với bố mẹ, lủi thủi một mình,
nó thấy buồn, chiều chiều đạp xe đến trường ngủ lại để sáng hôm sau đi học.
Có nó ở
bên, thấy vui thật nhiều, nhưng vui hơn cả là nó bày trò cho mình làm theo, câu
cá, móc cua, đốt lốp xe đạp bắt châu chấu…
Mình học với nó một năm, năm sau theo bố vào Minh Hải, rời xa nó, xa lớp, xa trường, xa quê..., nó theo vào giấc ngủ của mình tận trong miền xa lắc, nơi toàn dừa nước và đầy cả mặt sông sáu câu vọng cổ. Nhiều đêm tỉnh dậy vì mơ thấy nó toe toét, thò hai cái răng cửa ra trêu mình, nước mắt ươt một bên gối. Nhớ quay quắt, đến nỗi không còn thiết tha gì học nữa..., Mình viết thư cho nó, cứ đều đặn một tháng hai lá.
30 năm, mình về họp lớp, nó vẫn đọc vanh vách thư của mình:..."Tiến ơi, tao ở trong này chỉ có sông nước và xuồng ghe thôi, nhà thưng bằng lá dừa nước, sát bên những con kênh một ngày một lần nước lên xuống theo thủy triều...", phải công nhận nó nhớ dai!
30 năm, mình về họp lớp gặp nó, vẫn láu táu như ngày xưa, răng vẫn thò dài ra ngoài, một số thằng cùng lớp vẫn gọi nó là Tiến vổ, mình thì gọi nó là Tiến Xóm như ngày xưa vì đã quen vậy .
30 năm, mình về họp lớp, nó vẫn đọc vanh vách thư của mình:..."Tiến ơi, tao ở trong này chỉ có sông nước và xuồng ghe thôi, nhà thưng bằng lá dừa nước, sát bên những con kênh một ngày một lần nước lên xuống theo thủy triều...", phải công nhận nó nhớ dai!
30 năm, mình về họp lớp gặp nó, vẫn láu táu như ngày xưa, răng vẫn thò dài ra ngoài, một số thằng cùng lớp vẫn gọi nó là Tiến vổ, mình thì gọi nó là Tiến Xóm như ngày xưa vì đã quen vậy .
Con trai lớn
của nó đã gần 30, có lẽ nó sắp lên ông nội…
Nhà nó
có sân gạch, cây mít, và cối giã gạo trong làng còn nguyên, nhưng bố nó, ông
Xóm đã mất từ lâu và cái nhà đã chuyển giao cho đứa em gái út.
Dẫu nhiều đổi
thay, nhưng mình thấy nó chẳng khác ngày xưa…
Hồn nhiên,
xởi lởi đúng chất quê.
Ở với nó ba
ngày, sau buổi họp lớp mình phải đi.
Đêm ngồi ở
Nội Bài vì bị delay mất 4 tiếng. Nó gọi cho mình hỏi han nhiều chuyện…
4 giờ sáng, vừa tới Tân
Sơn Nhất, mở điện thoại, thấy nó nhắn tin:”Mày đi tao nhớ mày lắm, thi thoảng gọi điện cho tao nhé”!
Mình đọc
xong, ứa nước mắt. Gần 50 tuổi đầu mà vẫn như lũ trẻ ranh mới vào cấp ba ngày nào.
Mình buột mồm kêu:
Thằng Tiến Xóm!
Thứ Năm, 4 tháng 5, 2017
Ngày mình đi…
7 năm trời
Nam, ngày mình đi, ngoài đó cuối xuân, nhưng vẫn vương hương hoa nhãn, hoa bưởi…,
những khao khát, những hy vọng, những đam mê của đời kẻ viết nhưng nhất quyết
không lách.
Nơi phương
trời mới, nhưng không lạ, những tưởng mang theo được tất thảy những gì là
thương yêu của mình cùng tới đất phương Nam.
Hạnh phúc
chỉ như bóng câu qua cửa, khi chị nói không ngờ có ngày cả gia đình lại về một
mối bên nhau giữa trời đất phương Nam.
Đêm nay,
sau bao nhiêu đêm, lại ngồi kỳ cạch bên bàn phím, để mặc cho cảm xúc dâng lên
nghèn nghẹn, nước mắt muốn ứa ra mà lòng tê tái.
Có thể ngày
mai, ngày kia, bố mẹ về lại nơi ấy, và không muốn quay trở lại mảnh đất này.
Có thể khi
bố mẹ trở lại mảnh đất này, con sẽ trở về nơi khác…
Nhưng tất cả,
vẫn chỉ một nỗi lòng, tình phụ tử và mẫu tử, con có làm một điều gì không như bố
mẹ mong muốn, đấy cũng chỉ là số phận cuộc đời, không bao giờ là nghịch tử.
Tháng 4,
mình đã trở về đi trên con đê ngày xưa, ngày mà chân trần theo mẹ đi chợ Cống
Tráng, cả buổi chợ chen chúc nhau trong dòng người xuôi ngược, mồ hôi ướt đẫm
lưng áo mẹ, ống quần lấm lem bụi đất, trong cái túi lưới nhựa màu vàng chỉ có một
sóc cua và mớ rau đay lá đã mềm vì héo hắt.
Tháng 4,
mình về thắp hương ông bà ở mả quan, mùi hương vẫn như cách đây mấy chục năm,
nhưng mắt mình đã mờ khi đọc dòng chữ trên bia mộ, không biết do mắt mình hay
dòng chữ khắc trên bia đã nhòe theo năm tháng.
Tháng 4,
mình đi lại trên quãng đường ba năm học cấp ba với bùn trơn lầy lội khi mưa dầm,
với bụi mù mit khi trời hanh khô, với những mảng rơm dầy đặc quấn lấy bánh xe
nhích đi từng tý một. thót ruột, thót gan cố đạp cho kịp đến trường đúng giờ
vào lớp.
Tháng 4, với
những bữa cơm gạo mậu dịch vẫn còn nguyên mùi mốc meo, chan với canh rau lang
xanh như mực, nuốt với miếng cà nén mặn đến rụt cả đầu lưỡi sau những buổi học
về mà thấy ngon như ăn yến tiệc…
…Ngày mai,
ngày kia…khi bố mẹ trở về nơi ấy….
Mình đã thấy
trước được điều đó, nên không muốn nghĩ gì nữa, dẫu mắt cứ rớm ướt, với những
nghĩ suy nghẹn lòng…
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)


