Chủ Nhật, 26 tháng 11, 2017

Những người bạn của tôi đã “chạy” biên chế như thế!


Hình minh họa

Nhiều giáo viên vì mong mỏi và nuôi dưỡng ước mơ vào biên chế mà đánh đổi biết bao nhiêu cơ duyên, tuổi xuân, tiền bạc… nhưng không có kết quả.

Có đường là “chạy”

Nhiều cử nhân ngành sư phạm tốt nghiệp ra trường nhưng phải chạy đôn chạy đáo để xin việc. Chạy vạy đủ kiểu và nhiều trường hợp phải chấp nhận đánh đổi mọi thứ để được vào biên chế.

Câu chuyện về một cô giáo hợp đồng ở Tây Nguyên sẵn sàng “đổi tình lấy biên chế” với vị Hiệu phó không còn là chuyện hiếm trong môi trường giáo dục ngày nay.

Nỗi đau của giáo viên hợp đồng không chỉ phải “chạy” bằng tiền, bằng tuổi thanh xuân mà còn phải đánh đổi bằng tấm thân.

Một suất biên chế trở thành nỗi ao ước của bao giáo viên nhưng đó cũng là miếng mồi béo bở cho các lãnh đạo đưa ra mua bán, đổi chác.

Cách đây ít ngày, một người bạn của tôi, sau bao nhiêu năm ròng rã xa quê ở Thanh Hóa để vào một huyện miền núi tỉnh Lâm Đồng dạy hợp đồng đã nhắn tin buồn bã “Mình phải nói với mẹ mình rằng ‘Con lại sai nữa rồi’”.

Cậu bạn ấy tên Hưng, từng là học sinh giỏi có tiếng của một trường công lập tại Thanh Hoá.

Năm học 2006-2007 Hưng thi Đại học. Nhiều người khuyên với lực học của Hưng nên thi vào khối các ngành kỹ thuật như xây dựng, giao thông hoặc khối các ngành kinh tế để sau này dễ có việc làm và lương bổng cao.

Nhưng sau khi đắn đo, Hưng quyết định thi sư phạm Hóa - Trường Đại học Hồng Đức. Với suy nghĩ, học sư phạm sẽ đỡ cho cha mẹ gánh nặng học phí.  

Cha mẹ, người thân khuyên Hưng nên thay đổi suy nghĩ vì lo chuyện thất nghiệp. Hưng vẫn quyết định theo nghề một phần vì yêu nghề, phần vì kinh tế gia đình.

Kèm theo đó, Hưng luôn trấn an rằng “nghề nào có tài cũng sẽ được trọng dụng”.

Ra trường vài năm, trong khi các bạn cùng trang lứa đã nghề nghiệp ổn định thì Hưng vẫn trầy trật. Sau nửa năm thất nghiệp, Hưng xin đi dạy hợp đồng.

Gần 3 năm ròng rã dạy hợp đồng với mức lương tính theo giờ dạy. Trọn tháng thu nhập vẻn vẹn chưa đầy 1,5 triệu đồng.

26 tuổi, Hưng được một người quen giới thiệu vào Lâm Đồng đi dạy sẽ có đường “chạy” một suất vào biên chế.

Nghe theo, Hưng và gia đình quyết định vay tiền để nhờ người quen "gửi gắm".

Ban đầu là dạy hợp đồng, và được hứa “sau nửa năm sẽ cất nhắc vào biên chế”. Nhưng lời hứa của người quen cứ thế xa dần.

Bước sang năm thứ 4 đi dạy hợp đồng, Hưng vẫn chỉ nhận một lời hứa “gắng chờ chỉ tiêu”. Gần 30 tuổi Hưng vẫn không thể tự nuôi sống mình bằng nghề.

Trước kia, Hưng tự hứa với lòng sẽ tâm huyết gắn bó với nghề và phụng dưỡng cha mẹ già yếu.

Nhưng khi cái tuổi 30 mà trong tay chỉ hai bàn tay trắng. Ngày đi dạy, tối phải đi giữ xe thuê cho quán cà phê nhưng vẫn không thể đủ để nuôi bản thân, Hưng đã không thực hiện được ước mơ của mình.

Ngược xuôi vì biên chế

Một người bạn khác, tên là Châu, quê ở Quảng Bình cùng học ngành sư phạm với tôi.

Sau khi ra trường được 2 năm, Châu xin vào dạy hợp đồng tại một trường cấp 2 ở Quảng Bình và tìm cơ hội để vào được biên chế nhưng mãi vẫn chỉ là giáo viên dạy hợp đồng.

Mỗi năm, cứ hết hợp đồng ở trường này, Châu lại xin sang trường khác dạy, có khi phải đi xa nhà gần 20 km.

Sau khi nghe mọi người khuyên nên đi xa để tìm cơ hội. Dù gia đình neo người, ba mất sớm chỉ còn hai mẹ con, nhưng Châu vẫn quyết định xin vào dạy tại một huyện miền núi tỉnh Kon Tum.

Hơn hai năm trôi qua nhưng con đường vào biên chế của Châu vẫn chưa hề mở.

Nhiều người gợi ý cô chung chi gần trăm triệu để có một suất biên chế nhưng gia cảnh nghèo khó, lương hợp đồng không đủ sống thì lấy đâu ra số tiền ấy mà “chạy”.

Cuộc sống khó khăn, cô lại quyết định rời Kon Tum và về Sài Gòn với suy nghĩ: “mảnh đất này sẽ dễ tìm cơ hội hơn”.

Khi về Sài Gòn, cầm tấm bằng đại học sư phạm chuyên ngành địa lý, cộng thêm thâm niên giảng dạy gần 5 năm nhưng Châu vẫn chỉ vật vờ với công việc của một giáo viên hợp đồng.

Thời gian chủ yếu của Châu là đi làm gia sư để trang trải cuộc sống.

Không thể sống nổi được với nghề và càng không thể có cơ hội vào biên chế, Châu quyết định về lại quê tìm cơ hội mới.

Đó chỉ là hai trong số nhiều người bạn của tôi đã phải dở dang ước mơ được làm thầy, làm cô chỉ vì không có được một suất biên chế.

Các bạn đồng nghiệp khác, có ai trong hoàn cảnh như thế không?

(Nguồn: GDVN)

Thứ Năm, 9 tháng 11, 2017

Quỳ lạy Jack Ma

Làm giàu là cả sự quan hệ chằng chịt, trong đó tài năng là một phần, nó như là điều kiện cần. Những lớp học làm giàu, những sách học làm giàu, những lời khuyên của kẻ giàu có làm bạn giàu được sao? Nếu ai tin vào điều đó, thì kẻ đó có bộ óc của một baby.

Quá trình làm giàu như là một chiếc xe đạp 2 bánh. Một bánh là những gì ngoài tầm kiểm soát, bánh còn lại nhà những gì trong tầm kiểm soát. Những gì thuộc ngoài tầm kiểm soát như cơ hội, nền tảng gia đình, sự hỗ trợ, sự giúp đỡ, sự may mắn, môi trường làm ăn kinh tế, và hoàn cảnh đất nước bla bla... Những gì trong tầm kiểm soát như tài năng thiên bẩm, kiến thức, nhân cách, đạo đức v.v. Thiếu 1 trong 2 thì sẽ khó thành.

Học làm giàu thực ra là học những nghệ thuật ứng xử, nghệ thuật giao tiếp, nghệ thuật đàm phán, kinh nghiệm nắm bắt cơ hội v.v. Nó là để làm giàu vốn sống cho bản thân nhằm chống đỡ tốt nghịch cảnh nếu gặp rủi ro, và tối ưu hóa thuận lợi nếu may mắn đến với mình, chứ đừng nên nghĩ học làm giàu là sẽ làm giàu được. Ví dụ như thế này cho dễ hiểu, đất nước này bình quân đầu người có 2.200 USD cho mỗi năm, nếu có kẻ triệu phú đô ắt có kẻ ăn mày. Biết đâu bạn nghe kời khuyên Jack Ma nhưng bạn lại rơi vào một trong những kẻ túng quẫn, để cho kẻ khác bóc lột bạn để làm giàu!?

Tài sản quốc gia ít, cơ hội làm giàu vì thế cũng ít đi. Tiền dồn vào chỗ này thì vơi đi ở chỗ khác đó là điều tất yếu. Nếu ai học làm giàu mà cũng giàu thì cần gì đến vai trò điều hành kinh tế vĩ mô của chính phủ? Lúc đó chỉ cần cho mọi người học làm giàu thì họ giàu. Mà dân giàu thì nước giàu. Vậy dẹp chính phủ? Thực ra cơ hội của của mỗi người đều nằm trong tay chính phủ chứ không phải trong miệng Jack Ma.

Nếu tôi đặt câu hỏi, rằng giữa bạn và con của Jack Ma ai sẽ có cơ hội làm giàu dễ hơn? Chắc chắn 100% trả lời con của Jack Ma sẽ làm giàu dễ hơn bạn nhiều. Vì lý do đơn giản là con cháu gia đình giàu có thì cơ hội làm giàu lớn hơn, còn con cái gia đình nghèo khó thì cơ hội làm giàu ít hơn, vậy thôi.

Người ta nói "không ai tắm 2 lần trên 1 dòng sông". Điều đó có ý nghĩa gì? Điều đó nó nói lên rằng, hoàn cảnh đưa đến với một người nó sẽ không bao giờ có 2 tình huống y hệt nhau, tức hình dáng cơ hội nó luôn thiên biến vạn hóa. Ở 2 con người khác nhau thì chắc chắn cơ hội cũng hoàn tòan khác nhau. Cho dù có kéo cả Jack Ma, Bill Gates, và Warren Buffet sang nói chuyện thì họ cũng sẽ chỉ cho bạn những lời khuyên mà họ đã đúc kết được trong hoàn cảnh của họ. Bạn lắng nghe để trau dồi phẩm hạnh của mình thì OK, nhưng bạn nghĩ nghe lời khuyên đó mà làm giàu được như họ thì đừng có mà hoang tưởng. Vì sao? Đơn giản bạn không phải họ và hoàn cảnh của bạn cũng không giống hòan cảnh của họ.

Như vậy qua vụ anh bạn quỳ lạy Jack Ma cho ta thấy điều gì? Giới trẻ có hiểu biết quá nông cạn, tinh thần hèn yếu, và rất dễ dàng đánh mất sĩ diện. Đấy là điều đáng báo động. Trong một đất nước đói nghèo và đầy rẫy tham nhũng, thì chính ông Nhà nước mới là kẻ tước mất cơ hội làm giàu của những ai muốn làm giàu chân chính. Khi đất nước này rơi vào tình trạng bệ rạc như Venezuela thì đến chén cơm còn không có mà ăn chứ đừng nói đến chuyện làm giàu. Lúc đó có triệu lời khuyên Jack Ma thì cũng chẳng giúp bạn đủ ăn chứ nói chi đến làm giàu. Đừng quá ảo tưởng vào các lời khuyên của tỷ phú. Sách Bill Gates, của Warren Buffet, và sách của Dale Carnegie đầy ra đó, ai đọc đã làm giàu được?


(Nguồn: FB Đỗ Ngà)

Thứ Ba, 26 tháng 9, 2017

Thứ Tư, 2 tháng 8, 2017

Nhân loại đã dùng hết lượng tài nguyên mà Trái Đất có thể đáp ứng

Theo phóng viên TTXVN tại Geneva, tính đến ngày 2/8, nhân loại đã sử dụng hết lượng tài nguyên mà Trái Đất có thể tái tạo trong 1 năm.
Như vậy, từ nay cho đến 31/12, người dân trên hành tinh sẽ phải “lạm quỹ” thiên nhiên để đáp ứng các nhu cầu sống của mình, đó là thông tin từ tổ chức phi chính phủ mang tên Global Footprint Network (Mỹ) và Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) công bố ngày 1/8.
Các tính toán của Global Footprint và WWF xem xét lượng đến lượng khí thải carbon, nguồn tài nguyên tiêu thụ trong các lĩnh vực như thủy sản, chăn nuôi gia súc, cây trồng, xây dựng và sử dụng nước.
Năm ngoái, thời điểm nhân loại dùng hết lượng tài nguyên mà Trái Đất có thể đáp ứng cho cả năm là ngày 3/8. Mặc dù tốc độ sử dụng tài nguyên đã có xu hướng chậm lại từ 6 năm nay, thời điểm mang tính biểu tượng này - ngày đánh dấu các nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ của nhân loại đã vượt quá những gì Trái Đất có thể phục hồi trong một năm, "vẫn tiếp tục tịnh tiến xa hơn so với mốc ngày 31/12".
Hạn hán miền Tây

Các tổ chức này cảnh báo để đáp ứng như cầu của nhân loại, mỗi năm loài người cần tiêu thụ lượng tài nguyên gấp 1,7 lần khả năng đáp ứng của Trái Đất và đi kèm với thực tế này là rất nhiều hậu quả như tình trạng thiếu nước, sa mạc hoá, xói mòn đất, suy giảm năng suất nông nghiệp, suy giảm nguồn dự trữ hải sản, rừng cạn kiệt, nhiều loài động vật biến mất.
Global Footprint và WWF cũng cho biết "các dấu hiệu đáng khích lệ" chỉ ra rằng nhân loại có thể đảo ngược xu hướng lạm dụng tài nguyên thiên nhiên. Mặc dù nền kinh tế thế giới ghi nhận tăng trưởng, "lượng khí thải CO2 gắn với tiêu thụ năng lượng không tăng lên vào năm 2016 và đây cũng là năm thứ 3 liên tiếp như vậy,” điều này có thể được giải thích phần nào bởi sự phát triển đáng kể các loại năng lượng tái tạo trong sản xuất điện./.
(TTXVN)


Tôi

27 năm trước....

Và bây giờ...

Cô gái trẻ nhường ghế cho cụ ông...


Vào những ngày giáp tết, mỗi con tàu từ Nam ra Bắc lại đông nghìn nghịt người chen kẻ lấn. Và trên chuyến tàu từ Sài Gòn đi Hà Nội năm ấy có một cô gái gầy yếu, có lẽ chỉ trạc 20 tuổi. Cô gái mảnh mai đứng nép vào hàng ghế trên toa tàu, vậy mà vẫn bị hành khách xô đẩy làm cho nghiêng ngả. Ngay gần cô là một ông lão ngồi bên cạnh cửa sổ. Ông đang vui vẻ kể với mọi người rằng ông thật may mắn khi mua loại vé đứng mà vẫn tìm được một ô ghế trống trên tàu.
Nhìn thấy cô gái bé nhỏ giữa đám người đông đúc, ông lão quan tâm hỏi: “Cháu gái à, cháu về đâu vậy?”
“Dạ, cháu về Hà Nam ông ạ”.
“Thế thì phải chiều tối mai mới đến nơi, xa như vậy mà cháu phải đứng thế này thì chịu sao được! Thế này đi, khi nào ông xuống cháu có thể ngồi vào đây.”
“Dạ, thế cũng được ạ. Cảm ơn ông.” Cô gái nói với giọng nghẹn ngào, khuôn mặt tỏ ra đầy biết ơn.
Một lát sau khi nhân viên soát vé đi kiểm tra, anh nhìn đi nhìn lại vé của cô gái rồi ngạc nhiên hỏi: “Không phải vé của cô là vé ngồi sao? Tại sao phải đứng thế này?” Rồi anh liếc về phía ông lão đang ngủ và hỏi cô: “Sao cô không nói với ông ấy? Chẳng lẽ ông ấy không biết đó là chỗ của cô à?”
Cô gái mỉm cười, nhìn về phía ông lão ra vẻ thông cảm: “Ông ấy chắc cũng 70 tuổi rồi, nếu để ông đứng thì cũng tội…”. Cô cúi mặt xuống, hai má ửng hồng vì ái ngại.
Nhân viên soát vé gật đầu, có lẽ anh cũng hiểu được tấm lòng của cô gái trẻ. Anh nhỏ nhẹ: “Đi theo tôi, tôi có thể giúp cô tìm một chỗ ngồi”. Những người xung quanh đều nghe thấy, họ khen cô tốt bụng và biết nghĩ cho người khác, rồi họ dẹp sang nhường lối để cô đi.
Cô gái cúi xuống, lấy từ dưới ghế ra cây nạng của mình…
Những người xung quanh vừa rồi bị cảm kích tấm tòng lương thiện của cô, nay lại càng chấn động hơn nữa.
Người ta chọn “lương thiện” – không phải vì họ yếu đuối, mà vì họ hiểu rằng “nhân chi sơ, tính bản thiện”. Lương thiện, ấy chính là bản chất sơ khai và căn bản của loài người.

Người ta chọn “nhường nhịn” – không phải vì họ đang chùn bước, mà bởi họ hiểu rằng “nhẫn một chút sóng yên gió lặng, lùi một bước biển rộng trời cao”. Biết nhường nhịn, đó cũng là làm giàu có thêm tâm hồn mỗi người.
Người ta chọn “bao dung” – không phải vì họ hèn nhát, mà bởi vì họ hiểu bao dung là phẩm chất cao đẹp và một phẩm hạnh cao quý.
Người ta chọn “hồ đồ” – không phải vì họ thực sự ngốc nghếch, mà vì họ không muốn so đo hay tranh cãi. Im lặng mỉm cười để quan sát sự đời mới thực sự là việc khó làm.
Người ta chọn “tha thứ” – không phải vì họ không có nguyên tắc, mà bởi vì họ hiểu rằng người nhận được tha thứ sẽ không cố tình phạm sai lầm lần nữa.
Người ta chọn “trung thực”, có sao nói vậy – bởi vì họ hiểu rằng, nịnh hót xu bợ chỉ là đối phó, sự thật tuy mất lòng nhưng đó là lời có trách nhiệm.
Người ta chọn “tình nghĩa” – bởi vì đối với họ được ở bên bạn bè là cơ hội hiếm có. Trăm năm chỉ trôi qua trong nháy mắt, vì vậy họ biết sống hết mình cho trọn tình vẹn nghĩa tới hơi thở cuối cùng.
Ghi nhớ ân tình của người khác, học cách giúp đỡ người khác, và biết sống hết mình vì mọi người. Trong cuộc sống này, những tấm lòng bao dung và nhân ái luôn khiến lòng người phải cảm động. Cho dù đó là ai, thân quen hay xa lạ, nhưng tình yêu thương trao nhau sẽ làm cảm động đất trời. Họ chỉ là một cá nhân nhỏ bé, nhưng lại có thể dùng khả năng của mình để giúp đỡ người khác và làm cho thế giới này trở nên ấm áp hơn.
(Nguồn: Internet)


Thứ Ba, 25 tháng 7, 2017

Vì sao gần một nửa người Việt cùng mang họ Nguyễn?

Chắc hẳn ai cũng từng nghe hoặc từng quen biết một người họ Nguyễn. Trên trường quốc tế, đó là một dấu hiệu nhận diện người gốc Việt. Nhưng tại sao gần 40% người Việt lại có chung một họ Nguyễn này?

Nếu căn cứ theo tỉ lệ này, cứ ba người dân Việt Nam có ít nhất một người mang họ Nguyễn. Những người mang họ Nguyễn trên toàn thế giới có khoảng 90 triệu người, tức là nhiều thứ ba sau họ Lý và họ Trương của Trung Quốc.

Cấu tạo tên họ của người Việt khác với người Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản. Tên họ người Việt Nam phân thành 3 phần: Họ – tên đệm – tên. Ở những trường hợp chính thức, thông thường người ta chỉ gọi tên. Tên người thường là ba chữ hoặc bốn chữ, cũng có khi là 2 chữ (ví dụ Nguyễn Trãi).

Vậy thì tại sao họ Nguyễn lại trở thành dòng họ lớn nhất và đông nhất ở Việt Nam? Có rất nhiều nguyên nhân lịch sử cho hiện tượng này.

Thời cổ đại

Vào thời Nam Bắc triều (420 – 589) Trung Hoa thiên hạ đại loạn. Vì để lánh nạn mưu sinh, một bộ phận gia tộc họ Nguyễn sống tại An Huy, Chiết Giang, Hồ Bắc… di cư sang Việt Nam.

Bộ phận người này sinh sống ở Việt Nam, qua thời gian đã đồng hoá cùng dân bản địa để tạo nên thêm một bộ phận đáng kể người Việt có họ Nguyễn. Sau đó vào thời Ngũ Đại (5 triều đại nối nhau cai trị Trung Nguyên: Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu 907-960), dần dần lại có nhiều người họ Nguyễn di chuyển về phía Nam, bổ sung thêm vào số lượng người họ Nguyễn bản địa ở Việt Nam.

Sự phát triển của dòng họ lớn nhất Việt Nam cũng gắn liền quan hệ với triều đại nhà Trần. Trước triều Trần là giai đoạn trị vì của nhà Lý (1009 – 1225). Từ khi Lý Công Uẩn lên ngôi năm 1009 sau khi giành được quyền lực từ tay nhà Tiền Lê đến khi Lý Chiêu Hoàng bị ép thoái vị để nhường ngôi cho Trần Cảnh, tổng cộng là 216 năm.

Những năm đầu tiên, Trần Cảnh còn nhỏ tuổi, toàn bộ quyền hành của nhà Trần đều do một tôn thất vai chú của Trần Cảnh là Trần Thủ Độ nắm quyền. Trong thời gian này, Trần Thủ Độ đã làm một việc trực tiếp ảnh hưởng tới tên họ của người Việt.

Đó là việc gì? Ðời Trần Thái Tông (1232), sau khi đã đoạt ngôi nhà Lý, Trần Thủ Ðộ lấy lý do tổ nhà Trần tên Lý, đã bắt tất cả những người họ Lý là họ dòng vua vừa bị hoán vị còn trốn lẩn trong dân gian phải đổi thành họ Nguyễn.

Tuy nhiên ý đồ thật sự của Trần Thủ Độ là khai tử dòng vua Lý để không còn ai nhớ đến họ Lý nữa. Còn lý do vì sao khi đó ông lại lựa chọn họ Nguyễn để thay họ Lý, cho tới nay vẫn chưa được lý giải rõ, cũng có thể đó là lựa chọn một cách ngẫu nhiên.

Tuy nhiên trong sử sách chỉ ghi chép lại đơn giản như sau: “Sau khi nhà Trần nắm giữ quyền lực, tất cả những người mang họ Lý trong đất nước đều phải đổi sang họ Nguyễn”.

Có một điều càng không thể tưởng tượng được, đó là đổi họ đã trở thành một tục lệ của người Việt Nam thời cổ đại. Cứ mỗi khi một triều đại mới được thay thế thì tất cả những người mang họ của triều đại trước sẽ phải sửa thành họ Nguyễn. Trong lịch sử Việt Nam, đã từng có nhiều sự kiện như vậy khiến số người mang họ Nguyễn đã nhiều lại càng nhiều hơn.

Năm 1232, nhà Lý suy vong, Trần Thủ Độ đã bắt con cháu của dòng họ Lý chuyển sang họ Nguyễn. Khi Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần, ông ấy đã giết hại rất nhiều con cháu họ Trần. Vì thế, sau khi nhà Hồ sụp đổ, con cháu của họ Hồ vì sợ trả thù nên tất cả đã đổi sang họ Nguyễn.

Năm 1592, nhà Mạc suy tàn, con cháu của dòng họ Mạc cũng lại đổi họ sang Nguyễn. Khi triều đại nhà Nguyễn nắm quyền năm 1802, một số con cháu họ Trịnh cũng vì sợ trả thù nên lần lượt đổi hết họ sang Nguyễn, số còn lại trốn lên Bắc sang Trung Quốc.

Trong luật pháp của nhà Nguyễn, những người mang họ Nguyễn được hưởng nhiều đặc lợi, được triều đình ban thưởng. Vì thế các tội nhân cũng theo đó đổi họ sang Nguyễn nhằm tránh bị bắt tội, hưởng thêm ân sủng.

Cùng theo sự thay đổi của các triều đại những người mang họ Nguyễn càng ngày càng đông lên, cuối cùng lập ra triều Nguyễn. Triều Nguyễn cũng là triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam.

Thời cận đại 

Trước khi đề cập tới quãng thời gian này, cần nhấn mạnh một đặc điểm của các dòng họ Việt Nam thời cổ đại. Vào thời cổ đại, dân chúng ở tầng lớp thấp bình dân thường không mang họ, chỉ có các  vương tôn quý tộc mới có họ.

Vào thế kỷ 19, khi Việt Nam trở thành thuộc địa của người Pháp, lần đầu tiên người Pháp có cuộc điều tra về dân số với quy mô lớn nhất trên khắp Việt Nam.

Trong quá trình điều tra họ gặp phải một vấn đề phiền phức lớn, đó là: Đại bộ phận người dân ở tầng lớp thấp bình dân đều không có họ, nên không có cách nào để thống kê tổng kết.

Vào lúc này phải làm như thế nào? Người Pháp liền nghĩ ra một cách, trước đây triều Nguyễn chẳng phải là triều đại cuối cùng của người Việt sao, vậy những người không mang họ đó để họ đều mang họ Nguyễn. Dòng họ này, bởi thế lại được mở rộng với quy mô lớn chưa từng có thêm một lần nữa.

Kỳ thực cho dù không có người Pháp, họ Nguyễn vẫn là một dòng họ lớn nhất Việt Nam, tuy nhiên để chiếm một tỉ lệ lớn 40% như vậy, không thể không kể tới tác động của người Pháp.

Bây giờ, khi ra đường, bất kể gặp một người họ Nguyễn nào, bạn hãy nói rằng họ đang có một tên họ đặc biệt nhất Việt Nam. Còn nếu đang mang họ Nguyễn, có lẽ bạn nên đọc bài viết này.
(Nguồn: Kiên Định)

Mỗi mét vuông có ba thằng làm báo

Giám đốc Sở TT-TT Đà Nẵng tính toán:
Đà Nẵng hiện có hơn 109 cơ quan báo chí với hơn 800 người làm báo, trong đó 400 nhà báo được cấp thẻ.
“Không kể Hoàng Sa thì Đà Nẵng có 0,85 người làm báo/1km2, còn kể cả Hoàng Sa thì có 0,65 người làm báo/ 1km2”.
Mình không biết tính thế để làm gì?
Lâu nay nghe dân gian nói: "Một mét vuông có 3 thằng kẻ cắp", giờ nghe thêm: "Một km vuông có hai phần ba thằng làm báo".
Hehe, Đà Nẵng khi nào cũng độc.
*
Nói qua thì cũng nói lại.
Cách tinh mét vuông là cách tính cơ học và không khoa học, nếu tính thế thì Q. Hai Bà Trưng, Q. Đống Đa (Hà Nội), Q.1 (TP Hồ Chí Minh) mật độ nhà báo có thể ngang với... kẻ cắp.
Trong số 800 người làm báo nói trên, các cơ quan báo chí thuộc TP ĐN chiếm chừng một nửa. Các cơ quan báo chí trung ương và địa phương khác chiếm một nửa nhưng họ tác chiến cho cả miền Trung- Tây Nguyên nên cách tính trên càng sai.
Cái sai nhất về mặt quản lý là không chỉ có chừng đó người làm báo, vì tính thêm "báo chí công dân" thì số người làm báo đã ngang... kẻ cắp rồi.
Bí thư Nguyễn Xuân Anh nhận định: "Bây giờ Đà Nẵng được cả nước quan tâm, chúng tôi đang bị đặt dưới không những kính lúp mà kính hiển vi nữa".
Rất chính xác. Kính hiển vi đó là các "nhà báo công dân". Tính coi: Mỗi nhà 4 người có 4 cái Fb, đó là 4 cơ quan báo chí. Họ có mặt khắp nơi. Tự viết bái, link bài, xuất bản... cập nhật từng phút,
Họ cũng là nguồn tin cho báo chí.
Trừ các nguồn tin chính thống, nguồn tin độc hầu hết các báo chạy theo mạng xã hội.
Kính hiển vi coi chừng cũng thua!
(Xin bổ sung thêm: Tỉnh thành nào chả thế!)
*
Nhưng mà, điều quan trọng nhất không phải nằm ở chỗ bao nhiêu người làm báo mà nằm ở chỗ nguồn tin của họ.
Đó là thực tế đang diễn ra.
Đó là nội bộ của các cơ quan. Nếu ở đâu nội bộ mất đoàn kết, thông tin được tuồn ra ngoài với mục đích đánh nhau thì không cần chừng đó mà chí cần 1 nhà báo biết cũng đủ rồi.
Lúc đó bài họ viết lên sẽ nhanh chóng được shae, nhanh một cách chóng mặt.
Quản lý báo chí thời kỹ thuật số không nên tính cơ học là thế.

(Nguồn: Nguyễn Thế Thịnh)

Thứ Bảy, 22 tháng 7, 2017

Lời Phật dạy về tình yêu thương

Bản ngã luôn mong cầu tốt hơn những gì đang xảy ra. Nó không cho ta cơ hội trọn vẹn với thực tại đang là. Vì vậy ta rơi vào phiền não khổ đau. Nhưng chỉ cần ta buông mọi ý đồ muốn tốt hơn và trở về trọn vẹn với những gì đang diễn ra, ta sẽ thấy mọi sự đều vô thường, tự nhiên đến rồi đi. Tất cả đều có lý do, tùy duyên mà sinh khởi và cũng tùy duyên mà chấm dứt bất kể ta muốn hay không.
Trong tình yêu thương không gì gắn bó và quyến luyến bằng tình yêu nam nữ, bất cứ lời nói và cử chỉ nào, chúng ta cũng phải biểu lộ sự yêu thương trong tương kính. Đã làm người dù trai hay gái phải biết tôn trọng người mình đang yêu, cả thể xác lẫn tâm hồn. Mấu chốt của hạnh phúc gia đình trong hôn nhân tình yêu, người con gái phải biết giữ gìn, khéo léo trong mối quan hệ vợ chồng, cha mẹ và con cái nhằm nuôi dưỡng hạnh phúc lâu dài về sau.

Trong đạo Phật, lòng từ bi luôn gắn liền với trí tuệ. Không hiểu nhau, không thể thương yêu trọn vẹn vì ta không thể cảm thông và tha thứ, nhất là những người có quan niệm gia trưởng. Mỗi người đều có những nỗi khổ niềm đau riêng, bởi áp lực của công việc và trách nhiệm đối với gia đình, nếu chúng ta không thật sự hiểu về nhau, ngược lại sẽ không thương mà còn giận hờn, trách móc. Vì sao? Vì cái ta của mình đã phình to ra. Ngay khi ấy ta sẽ không thể cảm thông, chính vì thế tình thương của mình sẽ làm người khác cảm thấy, khó chịu, bức xúc và khổ đau.

Chúng ta đến với nhau mà không có hiểu biết, vô tình sẽ làm người mình yêu thương, đau khổ suốt đời. Hiểu biết chính là nền tảng của tình thương yêu chân thành. Không hiểu biết, chúng ta không thể thật sự thương yêu nhau. Trái tim của ta nếu có hiểu biết, thì tình yêu thương sẽ là nền tảng vững chắc và lâu dài.
Muốn thương yêu phải có hiểu biết

Phật dạy về tình yêu rất sâu sắc và có ý nghĩa. Tình yêu phải có sự cảm thông và tha thứ, bởi bốn yếu tố: từ, bi, hỉ, xả.

“Từ” theo nghĩa nhà Phật là đem niềm vui đến cho người, còn từ ở đây khả năng hiến tặng hạnh phúc cho người mình yêu. Yêu thương chính là chất liệu giúp cho con người sống có trách nhiệm hơn, yêu thương chính là sự hiến tặng chân thành. Yêu mà làm khổ đau cho nhau không phải tình yêu đích thực. Có những người khi lấy nhau một thời gian, bắt đầu phát sinh những bất đồng về nhau cho nên nỗi khổ niềm đau làm tan nát hai con tim. Chúng ta yêu thương ai đó thực sự, nghĩa là làm cho người đó được hạnh phúc, mỗi ngày.

“Bi” là khả năng giúp cho người mình yêu thoát ra được những cái khổ trong hệ lụy. Mình đã khổ và đang khổ, mà người ta vẫn cứ làm cho mình thêm đau khổ, đó là một thứ tình yêu không chân thật. Không có gì đau khổ bằng trong cơn tuyệt vọng. Người mình yêu phải là người biết chia sẻ, biết an ủi, để làm vơi bớt nỗi khổ niềm đau do hoàn cảnh đưa đến.

Như vậy, quan điểm “từ bi” theo đạo Phật là khả năng hiến tặng để đem lại hạnh phúc cho nhau. Khi chúng ta yêu thương là phải làm cho người ta giảm bớt khổ đau, tăng trưởng thêm hạnh phúc. Nếu không, chúng ta chỉ là đam mê, say đắm trong xác thịt, không phải là tình thương chân thành. “Từ bi” trong tình yêu được biểu cảm qua thái độ có hiểu biết nên mới dễ cảm thông và tha thứ cho nhau. Muốn được như vậy chúng ta phải cần nhiều thời gian, để quan sát, để lắng nghe, để thấu hiểu tâm tính của nhau và thương yêu chân thành hơn.

“Hỉ” là niềm vui đích thực trong tình yêu, làm cho hai con tim được hòa hợp và có sự rung động mãnh liệt. Dấu ấn khó phai của tình yêu đích thực là có sự cảm thông cho nhau, cùng tạo sự hưng phấn để đạt được niềm an vui, hạnh phúc.

“Xả” là không phân biệt, không kì thị trong tình yêu trong vấn đề trọng nam khinh nữ. Mình thương yêu ai, hạnh phúc của người ta là của mình, khó khăn của người ta là của mình, khổ đau của người ta là của mình, vì ta và người đó là của nhau. Khi yêu nhau, hạnh phúc hay khổ đau không còn là vấn đề của riêng tư, mà hai người phải có trách nhiệm để cùng san sẻ cho nhau.

Vấn đề hạnh phúc hôn nhân phải do sự hòa hợp của con tim và có sự thông cảm và tha thứ cho nhau. Học thức cao, kinh tế đầy đủ, cũng chưa đảm bảo hạnh phúc gia đình mặc dù hai yếu tố này rất cần thiết trong đời sống lứa đôi. Phật giáo chủ trương và khuyến khích mọi người tin sâu nhân quả nghiệp báo, nhờ vậy ta sẽ biết cách cải thiện đời sống gia đình ngày càng tốt hơn về mọi mặt. Do đó, những chuyện xảy ra cơm không lành canh không ngọt trong đời sống lứa đôi là do chúng ta không chịu nhường nhịn nhau.

Chúng ta yêu nhau là giữ gìn cho nhau, kính trọng nhau. Thân thể ta cũng vậy, có những vùng thiêng liêng và riêng tư, ta không muốn ai chạm tới, ngoài người ta yêu, ta tin, ta muốn sống và dâng hiến trọn đời, trọn kiếp mà thôi.

Tình yêu là gì?

Tình yêu đích thực là vô điều kiện, là cho đi mà không mong cầu đáp trả. Thậm chí khái niệm cho và nhận không tồn tại, chỉ còn sự tương giao một cách trọn vẹn và vô ngã. Tình yêu nam nữ phổ biến hiện nay chỉ là sự trao đổi, mà hàng hóa chính là cảm xúc và cảm giác của hai bên. Khi còn ảo tưởng về cái tôi thì không thể xảy ra tình yêu đích thực, vì thế nào cũng có điều kiện nào đó hiện diện. Tình yêu lúc đó dù bắt đầu có nồng thắm đến đâu, dù cảm xúc có mạnh mẽ đến đâu cũng thật mong manh. Vì chỉ cần xuất hiện yếu tố bên ngoài làm cảm xúc - cảm giác của một bên thay đổi, thế là bão táp phong ba liền ập tới.

Khi ta yêu một người tức là ta yêu luôn cả mặt tốt và mặt xấu của người đó. Xấu và tốt như hai mặt của một bàn tay. Ta không thể chỉ giữ lấy một mặt mà bỏ đi mặt kia. Ta luôn tự vẽ ra cho mình một hình ảnh về người mình yêu hay người chồng/vợ của mình. Nhưng đó chỉ là ảo tưởng của ta, không phải con người thực. Vì vậy ta cần nhẫn nại lắng nghe, quan sát và chia sẻ để có thể hiểu rõ về người bạn đời của mình. Khi thấu hiểu cả mặt tích cực và tiêu cực của người ấy, ta mới có thể yêu thương họ thật sự.

Khi ta thật sự yêu thương một người thì người đó sẽ cảm thấy tự do để được là chính họ. Tình yêu đích thực không ràng buộc đối tượng được yêu mà còn là động lực để cho họ đổi mới chính mình. Khi có biến cố xảy ra thì phụ nữ vẫn là người chịu thiệt thòi nhiều hơn, nhưng họ cũng dễ buông bỏ tư kiến của mình hơn. Nếu cô gái biết chấp nhận chàng trai như anh ấy là, thì sẽ có cơ hội để chàng trai thay đổi thái độ của mình.

Quy luật của cuộc sống là vô thường, kể cả tình yêu đôi lứa. Nếu ta đủ nhẫn nại để quan sát, ta sẽ thấy rõ, vị đắng, vị ngọt của tình yêu. Thấy rõ nó sinh ra và mất đi như thế nào. Và khi hiểu rõ, ta sẽ không còn bám chấp vào hôn nhân nhưng cũng không sợ sệt hôn nhân nữa. Ta có thể làm giấy kết hôn với người mình không hề yêu và cũng có thể nhắm mắt ký giấy ly hôn khi mình vẫn còn yêu tha thiết. Hôn nhân hay ly hôn vốn chỉ là hình thức, là một bản hợp đồng mà thôi. Làm sao nó có thể ràng buộc được tâm ta? Quan trọng là khi có biến cố xảy ra, ta cần đối diện với chúng bằng thái độ sáng suốt và trong lành. Vì biến cố đó là như ý hay bất như ý cũng là cơ hội cho ta hiểu thêm về chính mình, về người mình yêu. Và từ đó nhận ra bản chất thật của tình yêu, của cuộc sống.

Đừng tưởng xuất gia đi tu là ta có thể trốn thoát được bài học tình yêu. Với hiểu biết mờ mịt không rõ ràng, bất cứ lúc nào ta cũng có thể gặp vướng mắc tình cảm bất kể ta đang làm gì, ở đâu. Đức Phật có dạy rằng chỉ có thể thoát ly một pháp khi ta đã tường tận mặt tích cực cũng như mặt nguy hại của nó, khi ta nhận biết rõ từ khi nó sinh ra cho đến khi nó mất đi. Nói đúng hơn, lúc đó nó tự thoát ly, chứ không ai làm gì cả.

Hãy nhớ điều quý giá nhất trong cuộc sống chính là sự bất toàn. Vì khi toàn vẹn thì sự sống sẽ kết thúc. Sự bất toàn là một phần của vô thường, một quy luật tất yếu của cuộc sống. Khi ta còn đang sống trong ảo tưởng về bản ngã, về cái tôi và cái của tôi, thì bản ngã luôn cầu toàn và nỗ lực để được như ý. Nhưng những gì nó nhận được từ cuộc sống đều là bất toàn và bất như ý.

Sau những cố gắng và nỗ lực vô vọng, nhờ sự bất toàn ấy mà cuối cùng bản ngã cũng đầu hàng. Ta bắt đầu sống vô ngã vị tha và tự nhiên ta thấy sự bất toàn lại chính là động lực để phát triển và tiến hóa của vạn vật. Chính vì mọi thứ đều bất toàn mà ai cũng có cơ hội làm mới bản thân mình.

Bản ngã luôn mong cầu tốt hơn những gì đang xảy ra. Nó không cho ta cơ hội trọn vẹn với thực tại đang là. Vì vậy ta rơi vào phiền não khổ đau. Nhưng chỉ cần ta buông mọi ý đồ muốn tốt hơn và trở về trọn vẹn với những gì đang diễn ra, ta sẽ thấy mọi sự đều vô thường, tự nhiên đến rồi đi. Tất cả đều có lý do, tùy duyên mà sinh khởi và cũng tùy duyên mà chấm dứt bất kể ta muốn hay không. Tất cả những thiện - ác trong đời đều "Bất khả tư nghì", tùy hoàn cảnh, tùy đối tượng mà nó được gán cho cái nhãn "thiện" hay "ác". Dù những gì đang xảy ra là thiện hay ác, nó đều là bài học giác ngộ vô cùng quý giá về cuộc sống.


(Thích Đạt Ma Phổ Giác)