Thứ Sáu, 28 tháng 6, 2013
Thứ Năm, 27 tháng 6, 2013
Chậm và nhanh
Cái sự chậm và nhanh ở nước mình xem ra nói mãi vẫn không hết, nói mãi vẫn cứ muốn nói nữa, không thấy chán tý nào.
Chậm chạp và nhanh chóng không phải áp dụng ở đâu, khi nào cũng là tốt, những đa phần nhanh thì hay mà chậm trễ là dở.
Nước mình có những sự chậm trễ đến bất ngờ, mãi thành quen.
Sự chậm chạp trở thành tự nhiên như việc cây cầu dân sinh tên là Hòa Viên ở Chương Mỹ, Hà Nội, dài 200 mét, thi công 4 năm vẫn chưa xong.
Chậm 2 năm so với tiến độ, cây cầu gần như hoàn chỉnh nhưng thiếu mỗi đường dẫn do một số hộ dân chưa chịu di rời. Bởi vậy, nên người dân vẫn ngày ngày trèo thuyền nan đi lại qua cái khúc sông bé ti ti này.
Cái sự cầu xây xong đã lâu mà không làm được đường dẫn lên cầu ở ta bây giờ là chuyện quá thường, nên xem ra chẳng có gì phải bàn cãi.
Đi máy bay, bị chậm giờ thành mốt, câu chuyện này thành quen, người ta không hỏi nhau, đi hãng nào? Chuyến mấy giờ ? mà hỏi trễ mấy giờ. Bởi vậy, đi chuyến nào trễ ít nhất, hành khách cười vui mãn nguyện và còn cho là số mình may mắn, hạnh phúc hơn vô số người khác và còn cảm ơn hãng bay.
Có cái chậm làm người ta phát điên, đó là các tử tù nằm dài cổ đợi có thuốc độc để tiêm, nằm mãi không có thuốc đến phát điên lên đòi tự tử…nhưng vẫn cứ phải chờ thuốc???
Kể ra bao nhiêu cái chậm, kể mãi cũng chẳng hết. Kể sang đến cái nhanh, tưởng nhanh ai cũng thích, nhưng có một cái nhanh thành tệ nạn ở xứ mình. Người ta đi trên đường ai cũng muốn nhanh, giành đường của nhau, không ai nhường ai, xe máy lấn sang tuyến ô tô, ô tô vượt vào đường tàu hỏa. Đèn đỏ cũng vượt…một tay cầm lái, một tay nghe điện thoại, phi vù vù, thật nhanh, tưởng để làm gì, hóa ra bạn gọi đến uống cà phê, uống rượu, đi nhanh cho kịp.!!!thế nên cái sự nhanh này, trung bình mỗi ngày cướp đi 30 chục mạng. Ôi cái xứ mình, nhanh nhanh, chậm chậm, sắc sắc, không không…thấy mà kinh hãi./..
Thứ Hai, 24 tháng 6, 2013
Quê nghèo
Đêm phương Nam
Nằm nghe mưa rơi
Tiếng mưa như rót vào nỗi nhớ
Nhớ quê nghèo quanh năm
chỉ lá khoai xanh bên bờ ruộng
Tiếng chẫu vào mùa ồn ã góc ao
Nhớ những đêm gối đầu tay mẹ đếm sao
Kia chòm Thần Nông, gầu sòng, Bắc Đẩu…
…và cả đôi mắt vịt con thẳm sâu nhấp nháy…
Cơn mưa nào rạch chớp ở phía Đông
Có những đêm rằm tháng tám cùng ông
Ngồi xem trăng, xem luôn thời tiết
Thật tròn, thật trong năm nay sẽ giá nhiều
Mỗi mảnh ruộng chỉ đó có bao nhiêu
Bàn chân, bàn tay của dì, của cô
ngâm trong bùn thâm tím
Nhấc lên rồi, cây mạ cũng đòi theo
Những bông lúa quê nghèo
quẩn quanh bên người
một năm hai vụ
Có vụ nào bà mò mẫm vớt mãi không lên
Bão dập, mưa dồn làm lưng bà còng xuống
Hạt gạo nuôi con
Thơm mãi tận bây giờ
Ai muốn đi xa, cũng bắt đầu từ quê nghèo ấy
Nếu đã đủ đầy rồi
Không để ý chuyện ngày xưa
Xin đừng bao giờ quên mảnh áo mưa
Bà buộc ngang lưng, nhấp nhô bên bờ ruộng
Kiếm lá rau, con tép, con cua
Nuôi chúng ta, dẫu tháng ba ngày tám
Bởi không nỡ lòng nào
để cháu thèm cơm…
Ai đã thành ông nọ, bà kia
Mưa, ngồi trong xe
nắng, không nhòm tới mặt
Xin đừng quên những ngày đông về giá ngắt
Đêm phương Nam
Cồn cào bao kỷ niệm
Của một thời thơ ấu quê nghèo./…
Thứ Sáu, 7 tháng 6, 2013
Hết mẹ nó việc!!!!!
Họp Quốc hội, chán chê mọi thứ chuyện, có bố đề nghị sửa Quốc ca! Đúng là hết mẹ nó việc, không thể nghĩ ra được việc gì để làm cho nước, cho dân nữa...nên ngồi rỗi hơi nghĩ ra chuyện này...Đại biểu này ai bầu vào Quốc hội thế? vào để làm gì? và còn được tín nhiệm đến bao giờ?????
Lính nhà giàn hiên ngang canh giữ biển trời
Những ngày cuối tháng 5, biển Trường Sa đẹp say lòng người, Trung tá Giáp Văn Ngư, cán bộ Vùng 4 Hải quân, thành viên đoàn công tác số 13 trên tàu HQ 571, người đã từng có thâm niên đi biển phải thốt lên rằng, chưa bao giờ có một chuyến đi mà biển êm như lần này! Theo tay trung tá Giáp Văn Ngư chỉ, nhà giàn DK1/15 Phúc Nguyên đang hiện ra trước mắt, như một dấu chấm than giữa một vùng nước xanh, trời xanh bất tận.
Biết là chỉ chừng chưa đầy 30 phút đồng hồ nữa thôi, tất cả sẽ được lên với nhà giàn, với những chiến sỹ ngày đêm canh giữ biển, thềm lục địa, một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc, nhưng cả đoàn công tác ai cũng muốn được mình là người được đặt chân đầu tiên lên ngôi nhà thân thương mà trên đất liền chỉ được xem qua tranh, ảnh, ti vi…
Rưng rưng nước mắt...
Cách nhà giàn DK1/15 một khoảng không xa, tàu HQ 571 thả neo để chuẩn bị cho Lễ tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ đã hy sinh trên thềm lục địa phía Nam, một không khí trang nghiêm, xúc động bao trùm lên khắp con tàu. Trong khói nhang trầm nghi ngút, tiếng nhạc trầm hùng, có những giọt nước mắt lăn dài trên má những ca sỹ ở tuổi đôi mươi của Đoàn Văn công Quân khu 9, Đoàn Nghệ thuật Thừa Thiên- Huế… khi nghe diễn văn ôn lại truyền thống anh hùng của Tiểu đoàn DK1 trong công cuộc bảo vệ thềm lục địa phía Nam, gìn giữ nhà giàn trước bão tố phong ba của biển.
Trung tá Lương Đình Hiền, Tiểu đoàn phó DK1, người có thâm niên 11 năm ở nhà giàn xúc động nhớ lại những kỷ niệm không quên của những năm tháng sống cùng chiến sỹ tại nhà giàn trên bãi ngầm Phúc Nguyên. Có ngấn nước như muốn tràn ra trong khóe mắt của anh khi nhắc đến gương hy sinh anh dũng của cán bộ, chiến sỹ nhà giàn DK1/6 Phúc Nguyên năm ấy, chính nhà giàn mà Trung tá Lương Đình Hiền vừa bàn giao lại để sang nhà giàn khác nhận nhiệm vụ mới, chỉ sau đó vài tháng, tại đây, 3 đồng đội thân yêu của anh đã vĩnh viễn nằm lại giữa biển khơi.
Giọng trầm buồn, Trung tá Lương Đình Hiền cho biết, bãi ngầm Phúc Nguyên có chiều dài khoảng 30 km, độ sâu khoảng từ 16m đến 20m, nhà giàn DK1/6 đã được xây dựng trên bãi ngầm đó. Đầu tháng 12/1998, cơn bão số 8 là một cơn bão mạnh đã tràn qua vùng biển này, nằm trong khu vực tâm bão, trong tình thế hiểm nghèo, dưới sự chỉ huy của Trạm trưởng Vũ Quang Chương, người con quê hương Thái Bình, cùng với 8 cán bộ, quân nhân chuyên nghiệp của nhà giàn DK1/6 Phúc Nguyên đã kiên trì bám trụ, liên tục giữ vững thông tin liên lạc và báo cáo chính xác mọi diễn biến về Sở chỉ huy, bình tĩnh, dúng cảm chống chọi với bão tố, dự kiến những tình huống xấu nhất có thể xảy ra và tìm mọi biện pháp nhằm giảm thấp nhất thiệt hại về người và trang thiết bị kỹ thuật.
Giữa biển khơi mênh mông, đêm tối mịt mù, sóng gió vùi dập, đói và rét, 9 cán bộ, nhân viên nhà giàn vẫn kiên cường bám trụ bảo vệ nhà giàn đến cùng, với tinh thần còn người là còn nhà, còn trạm. Tuy nhiên, do trong một thời gian dài phải chống chọi với những trận cuồng phong, những con sóng có đỉnh cao tới 14-15m trùm kín cả sàn công tác của nhà giàn, cùng với sức gió giật mạnh làm cho nhà giàn bị rung chấn dữ dội và nghiêng lắc mạnh. Vào lúc 3 giờ sáng ngày 14/12/1998, thời điểm mà sức mạnh và sự tàn phá của bão số 8 lên đến đỉnh điểm, cũng là nhà giàn DK1/6 Phúc Nguyên bị đổ, cả 9 đồng chí trên nhà giàn đã bị hất tung xuống biển. Ngay sau đó, lực lượng tàu trực cấp cứu của Hải quân đã khẩn trương, tích cực tổ chức tìm kiếm, cấp cứu những cán bộ, chiến sỹ bị nạn. Tuy nhiên, ba ngày sau mới phát hiện và cấp cứu được 6 đồng chí, còn lại 3 đồng chí là Đại úy, Trạm trưởng Vũ Quang Chương; Chuẩn úy chuyên nghiệp rađa và Chuẩn úy chuyên nghiệp cơ điện Vũ Văn An đã mãi mãi ở lại với biển khơi, thi thể các anh đã hóa thân vào sóng, gió, nước của đại dương mênh mông, nhưng tinh thần quả cảm, tấm gương anh dũng hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ nhà giàn, bảo vệ chủ quyền, vùng biển, thềm lục địa của Tổ quốc mãi mãi khắc ghi trong nỗi tiếc thương, sự cảm phục và niềm kiêu hãnh của cán bộ, chiến sỹ Hải quân, của người dân Việt Nam.
Bây giờ, nhà giàn DK1/15 Phúc Nguyên đã được xây dựng lại vững chãi và rộng rãi hơn trước, trước một công trình nguy nga, đồ sộ giữa biển khơi mới thấy sự vĩ đại của sức mạnh của con người.
Thiếu tá Lê Quang Ninh, Chỉ huy trưởng nhà giàn DK1/15 Phúc Nguyên, 37 tuổi, nhưng anh cũng đã ở nhà giàn 13 năm, anh cho biết, sau khi nhà giàn DK1/6 bị đổ, nhà giàn DK1/15 Phúc Nguyên đã được xây dựng lại để tiếp tục sứ mệnh lịch sử, làm nhiệm vụ chốt giữ, bảo vệ vùng biển, vùng trời được phân công.
Theo Thiếu tá Lê Quang Ninh, tuy giờ đây được ở trên nhà giàn vững chắc hơn trước, điều kiện có tốt hơn trước, nhưng khó khăn vẫn còn rất nhiều, nhất là vào những ngày sóng lớn, mưa bão, việc tiếp cận lên nhà giàn là bất khả thi, nên tiếp tế lương thực, thực phẩm vì thế không thể thực hiện được kịp thời…
Tuy nhiên, càng khó khăn, các chiến sỹ trên nhà giàn vẫn luôn thể hiện tinh thần lạc quan, tìm ra mọi cách để khắc phục. Để cải thiện đời sống, nâng cao chất lượng bữa ăn của cán bộ, nhân viên nhà giàn, ngoài chế độ, tiêu chuẩn được cung cấp theo đặc thù, nhà giàn thường xuyên chú trọng đẩy mạnh tăng gia trồng rau xanh và đánh bắt hải sản.
Nhà giàn đã được cấp khay đất, hạt giống theo định lượng đầu người để trồng rau xanh. Trong điều kiện không gian chật hẹp, rau xanh được trồng trong các khay gỗ, khay nhựa và được đặt ở nhưng không gian tận dụng như hành lang, gầm cầu thang, ô cửa của nhà giàn. Hàng ngày, nước thải sinh hoạt được tận dụng triệt để dùng cho tưới rau, rau xanh vì thế có gần như đủ các loại như trong đất liền, nhưng chủ yếu là rau cải, rau dền, bầu đất, mùng tơi… mỗi năm cũng cho thu tới gần 600 kg.
Nhờ đó, nhà giàn Phúc Nguyên không những cơ bản khắc phục được tình trạng thiếu rau xanh trong các bữa ăn hàng ngày mà còn giành một phần hỗ trợ cho cán bộ, chiến sỹ các đơn vị tàu làm nhiệm vụ trực trong khu vực.
Trong buổi giao lưu với đoàn công tác số 13 của tàu HQ 571, có ý kiến băn khoăn về công tác tư tưởng của cán bộ, chiến sỹ nhà giàn khi phải đối mặt với khó khăn, Thiếu tá Nguyễn Văn Thuận, Chính trị viên nhà giàn DK1/15 Phúc Nguyên đã khẳng định, với tư cách là Chính trị viên, với thâm niên tròn 20 năm công tác tại nhà giàn, chưa khi nào thấy anh em đồng đội của mình có tâm trạng, tư tưởng bị lung lay, nhụt ý chí khi gặp phải những khó khăn gian khổ, nhất là trong những hoàn cảnh phải đối mặt giữa sự sống và cái chết. Những tấm gương hy sinh anh dũng của các liệt sỹ trên nhà giàn năm xưa càng thêm hun đúc tinh thần bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc giữa trùng khơi của người chiến sỹ nhà giàn DK1, tất cả đều tâm niệm một điều, được ra nhà giàn là vinh dự và tự hào với trách nhiệm lớn lao mà Tổ quốc, nhân dân tin tưởng giao phó.
Thiếu tá Nguyễn Văn Thuận nhắc lại câu nói luôn khắc ghi trong tim các chiến sỹ nhà giàn, đó là: Đất liền hãy yên lòng, khi còn người, còn chúng tôi trên nhà giàn là chủ quyền của Tổ quốc thân yêu ngoài biển khơi vẫn được giữ vững.
Nao lòng....
Chia tay với cán bộ, chiến sỹ trên nhà giàn DK1/15 Phúc Nguyên, khi con xuồng cuối cùng đưa đoàn công tác trở về tàu, nhìn bóng áo trắng và những cánh tay vẫy chào dần nhòa đi trong sóng và gió biển, nỗi xúc động dâng lên ngập tràn trong lòng mỗi người khi thực sự phải rời xa những con người bình dị nhưng đầy quả cảm. Không ai bảo ai, cả xuồng cùng cất cao lời của bài hát “Khúc quân ca Trường Sa”, bài hát như thay cho lời chào các anh, những người chiến sỹ nhà giàn DK1, để rồi ước mong có một ngày được trở lại nơi này./..
Thứ Tư, 24 tháng 4, 2013
Thứ Bảy, 13 tháng 4, 2013
Bức thư thiêng dự cảm về sự ra đi của một liệt sĩ
“Quảng Trị 11/9/1972. Toàn thể gia đình kính thương! Con ngồi đây biên vài dòng chữ cuối cùng trước khi “đi nghiên cứu bí mật trong lòng đất”… Con đi mẹ ở lại trăm tuổi bạc đầu. Thôi mẹ nhé đừng buồn, coi như con đã sống trọn đời cho Tổ quốc…”
Mẹ kính mến! Lớn lên trong tay mẹ từ khi còn trứng nước, chưa đền đáp được công ơn to lớn đó của mẹ thì đứa con út của mẹ đã phải đi thăm bố con rồi. Thư này tới tay mẹ chắc mẹ buồn lắm. Lòng mang nặng đẻ đau giọt máu đào hơn ao nước lã, lá vàng còn ở trên cây lá xanh rụng xuống trời ơi hỡi trời…”.
Trên đây là những dòng cảm xúc, dự cảm mình sẽ hy sinh trong cuộc chiến đang ngày càng ác liệt bảo vệ Thành cổ Quảng Trị 1972 của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh gửi về gia đình.
Liệt sĩ Lê Văn Huỳnh là sinh viên năm 4 (khóa 13) Khoa Cầu hầm, trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Anh cũng như biết bao sinh viên khác gác bút nghiên lên đường vào Nam chiến đấu trong chiến dịch 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ. Bức thư anh viết ngày 11/9/1972, trước lúc anh hy sinh đúng 3 tháng 20 ngày (ngày hy sinh 2/1/1973).
Chúng tôi sẽ chết như đã sống
Trước trận đánh lớn, liệt sĩ Lê Văn Huỳnh đã viết vội bức thư gửi về cho người mẹ già yếu, cho người vợ mới cưới, cho anh chị và người cháu yêu thương với những gửi gắm, dặn dò tha thiết. Trong bức thư, anh dự cảm về cái chết, nơi mình sẽ ngã xuống. Không ai ngờ rằng, đó lại là chỉ dẫn để đồng đội, người thân tìm thấy anh sau ngày giải phóng.
Viết cho mẹ, anh có đoạn: “Mẹ kính mến! Con đi mẹ ở lại trăm tuổi bạc đầu, coi như con lúc nào cũng nằm bên mẹ, mẹ đừng buồn cho linh hồn con được thỏa mái bay đi… Thôi mẹ nhé đừng buồn, coi như con đã sống trọn đời cho Tổ quốc”.
Trước khi “nghiên cứu bí mật trong lòng đất”, anh đã viết cho chị Đặng Thị Xơ, người phụ nữ mới được làm vợ anh 6 ngày và sau đó là hơn 30 năm đằng đẵng thờ chồng: “Em sẽ đọc bức thư này cho mọi người trong gia đình nghe trong buổi lễ truy điệu anh. Cho anh gửi lời chúc sức khỏe đến tất cả những người quen thân thuộc trên quê hương trong buổi lễ truy điệu lịch sử này. Thôi nhé em đừng buồn, khi được sống trong hòa bình hãy nhớ tới anh. Nếu thương anh thực sự thì khi hòa bình có điều kiện vào Nam lấy hài cốt anh về. Đường đi như sau: Đi tàu vào thị xã Quảng Trị, qua sông Thạch Hãn là nơi anh đã hy sinh khi đưa hàng qua sông. Từ thị xã ngược qua cầu hỏi thăm về Nhan Biều 1, sẽ thấy tấm bia ghi dòng chữ tên anh đục trên mảng tôn…”.
Sau khi chiến sĩ Lê Văn Huỳnh hy sinh, bức thư anh cất giữ bên mình đã được đồng đội đưa về Thái Bình, gửi lại cho chị Xơ. Qua lời chỉ dẫn trong thư, năm 2002, chị Xơ và các đồng đội đã tìm thấy phần mộ liệt sĩ Lê Văn Huỳnh. Mỗi điều trong bức thư đều đúng đến kỳ lạ, chỉ khác duy nhất là mộ anh được tìm thấy ở thôn Thượng Phước chứ không phải thôn Nhan Biều 1 (hai thôn này nằm cạnh nhau).
Bức thư tuy được viết trong những ngày cuối khốc liệt nhất của cuộc chiến 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ nhưng 10 trang thư của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh không hề có hình ảnh bom đạn, sự sợ hãi hay bi lụy. Trào dâng mãnh liệt trong tâm thư là niềm tin vào hòa bình, đất nước thống nhất cùng nỗi nhớ nhà và thương yêu chưa kịp đền đáp ân tình người thân.
Hơn 10 năm qua, hàng nghìn đoàn hành hương về Thành cổ, hàng triệu người đã khóc, nghiêng mình trước dòng tâm thư của liệt sĩ Huỳnh gửi về gia đình (bức thư thiêng của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh được trưng bày tại bảo tàng từ năm 2002). Qua năm tháng, bức thư đứng trước nguy cơ bị hư hại nghiêm trọng, nhiều trang thư đã nhòe mực, hoen ố.
Điều này khiến nhiều cựu chiến binh trăn trở. Những cán bộ bảo tồn luôn đau đáu tìm biện pháp khắc phục. Trung tâm bảo tồn di tích, danh thắng Quảng Trị đã tìm tòi nhiều phương pháp và nhận nhiều sự hỗ trợ để mong phục hồi bức thư. Năm 2012, bức thư đã được phục hồi thành công bằng phương pháp bán thủ công và được thực hiện ngay tại Quảng Trị.
Theo ông Nguyễn Quang Chức, Phó Giám đốc Trung tâm bảo tồn di tích và danh thắng Quảng Trị, để có thể phục hồi bức thư của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh, sau hai năm miệt mài tìm tòi các phương pháp, Trung tâm bảo tồn di tích và danh thắng Quảng Trị đã dùng phương pháp bán thủ công là scan toàn bộ bức thư vào máy tính rồi sau đó bóc tách riêng toàn bộ chữ trên bức thư bỏ sang một bên. Kế tiếp, tìm một loại giấy thuộc năm 1972 có màu sắc tương tự như loại giấy mà liệt sĩ Lê Văn Huỳnh đã dùng, scan vào máy tính rồi đem toàn bộ nét chữ lấy từ bức thiêng “dán” vào tờ giấy đó.
Sau một thời gian nỗ lực bóc-tách-ghép, bức thư của liệt sĩ Huỳnh đã được phục hồi gần như nguyên bản.
Trong đợt kỷ niệm 40 năm chiến dịch Thành cổ vừa qua, ông Ngô Thanh Bảo, Giám đốc Trung tâm bảo tồn di tích, danh thắng và đoàn công tác ra Thái Bình đã trao tặng bức thư được phục hồi cho vợ liệt sĩ Lê Văn Huỳnh. Cầm trên tay bức thư phục hồi rõ ràng từng nét chữ của anh, chị Xơ và người thân rưng rưng xúc động!
Đọc xong bài viết này, chắc nhiều người đau xót trong lòng. Sắp 40 năm trôi qua, với những cái chết hóa thành bất tử, những cái chết nhẹ hơn cả lông hồng, thanh thản, nhẹ nhàng vì lý tưởng cao cả…
Nhưng giờ đây, ngày nào trên hệ thống báo chí quốc doanh của mình cũng nhan nhản những cái chết ghê rợn, mất hết nhân tính!
Có ngày nào trên báo chí Việt Nam không có tin người chết? lấy dao cắt cổ, lấy điện chích vào người, dùng gậy đập vào đầu, thiêu chết người.v.v…sao từng ấy năm con người với con người đã xử sự với nhau theo sự đi xuống đến thảm hại của đạo đức!
Đừng đổi cho đất nước còn nghèo, ngày liệt sỹ Lê Văn Huỳnh viết lá thư trên đất nước còn nghèo hơn bây giờ nhiều, nhưng sao những cái chết của mọi người ngày ấy lại trở thành bất tử?
Hình như đã muộn khi nhận ra sự giáo dục lòng tử tế cho lớp con, lớp cháu sau này toàn bằng những điều giả dối, thiếu chân thật kéo dài đến mấy mươi năm. Chứng kiến thực trạng đau lòng đang xảy ra ở cái lớp người đầu xanh, đầu đỏ, cơ thể suy nhược, miệt mài tìm những thú vui cho riêng mình trong quán cà phê, tiệm internet, trong ảo ảnh điên cuồng của những thứ thuốc kích thích ta mới thấy cái chết của họ thực ra cũng chẳng đáng gì! Cũng bởi chính họ không coi trọng sự sống của họ! Nhưng sự đau lòng là ở chỗ họ đã gây ra cho người khác những cái chết không đáng!!!
Thứ Ba, 2 tháng 4, 2013
Ha ha ha
Trưa ngày hôm qua 28/3, ông Thái Bá Đạo, làm nghề dạy tiếng Anh và dịch thơ ở TPHCM nhận được tin xăng chuẩn bị tăng vào 20h tối cùng ngày. Trong khi phố phường nô nức mang chai, lọ, đi đổ xăng để tích trữ chuẩn bị nghênh chiến, thì ông Đạo chỉ nói một câu “Biết rồi khổ lắm nói mãi” rồi thản nhiên ngủ tiếp. Sự bình thản đến hiếm có của ông Đạo đã khiến phóng viên TKT phải có mặt tại hiện trường ngay trong buổi chiều hôm đó.
“Ở sa mạc Sa-ha-ra mà dự báo ngày mai trời nắng thì chẳng có hàm lượng thông tin gì. Bây giờ bảo với tôi là xăng sắp lên giá thì tôi cũng chả có gì mà phải ngạc nhiên“-ông Đạo bình thản nói. “Tôi chỉ có một lần vui tới mất ăn mất ngủ khi xăng giảm giá lần trước, tưởng thế nào hóa ra là người ta lùi 1 giá để tiến 3 giá.”
Ông Thái Bá Đạo cho biết nước lên ông còn chẳng sợ nói gì xăng lên.
Sau đó, ông Bá Đạo tặng Tin Khó Tin một bài thơ:
Người Việt Nam hiện đại
Đã thôi gõ trống đồng
Họ làm ăn, đi lại
Bằng phương tiện giao thông
Ô tô và xe máy
Không chạy bằng dầu ăn
Khoa học chưa phát triển
Nên xe phải dùng xăng
Xăng liên tục tăng giá
Làm sao khỏi âu lo?
Thôi, về thời đồ đá
Đi xe ngựa, xe bò.
“Đi voi từ Bình Định ra đến Hà Nội hết có 3 tuần, lại không phải ăn cơm tù, làm sao cứ phải đi xe?” – ông Nguyễn Huệ, một người thích mặc áo vải thắc mắc.
Từ thị trường chứng khoán phố Uôn, tiến sĩ chuyên ngành hot gơn học Đỗ Bá K bình luận: “Giá xăng thì đằng nào cũng tăng, có lẽ ta nên chọn giải pháp cho xăng tăng theo hàm liên tục thay vì rời rạc mấy tháng một lần như hiện nay. Tôi nghĩ rằng nếu như trong một năm giá xăng tăng thêm khoảng 7000 đ/lít, thì ta nên chia thành tăng giá 20 đồng/ngày cho người dân khỏi sốc.”
Tin từ các tòa soạn báo ở khắp 64 tỉnh thành cho biết, nhiều phóng viên phụ trách mảng kinh tế-tài chính đã buộc phải thôi công tác, hoặc chuyển sang phụ trách mảng hot gơn-cướp giết hiếp. Lý do chính là do tình hình kinh tế chỉ quanh đi quẩn lại có tin vật giá leo thang nên không được bạn đọc đón nhận nữa. Trên các diễn đàn, mạng xã hội, những chuyện cười cũ rích theo kiểu “Anh yêu em mỗi ngày mỗi tăng như giá xăng“, hay “Người đàn ông dũng cảm là người dám hô “Đầy bình” lại rộ lên trong sự hờ hững của cộng đồng mạng. Một số phóng viên thậm chí đã chuyển qua làm dư luận viên để cải thiện đời sống.
Trao đổi với chúng tôi, một quan chức của Bộ giao thông-vận tải cho biết: “Việc tăng giảm giá xăng điều tiết thị trường là quyết định của Bộ tài chính, việc xử phạt người đi xe không chính chủ là chủ trương của Bộ Công an, xử phạt ngoại tình là công văn của Bộ tư pháp. Bộ GTVT không có chủ trương tận thu gì khác ngoài việc chuẩn bị thu phí tham gia giao thông của người đi bộ.”
Ông Tô-ni Xờ-tắc cho biết ông không quen chủ nhiệm VPCP, cũng không chạy bằng xăng, nhưng Đam trong tiếng Mỹ thì chắc chắn nghĩa là “Bố khỉ!!”
“Hai mươi ba nghìn một trăm năm mươi cộng với một nghìn bốn trăm ba mươi, ba cộng năm là tám, viết tám nhớ không, bốn cộng một là năm, viết năm nhớ không, ba cộng một là bốn viết bốn nhớ không, vị chi là hai mươi tư nghìn năm trăm tám mươi” – GS Ngô Bảo Châu sử dụng một thuật toán được phát minh tại Trung Phi vào 2 vạn năm trước, gọi là “phép cộng” để tính toán giá xăng. Qua khảo sát nhanh của TKT, trong số ba mươi người được hỏi, không ai lý giải được thuật toán phức tạp này. “Em thú thực là em không hiểu gì cả” – một sinh viên khoa toán thuộc đại học Tổng hợp Hà Nội vừa chơi Đế chế vừa cúi đầu thừa nhận. Bộ Giáo dục và Đào tạo không có ý kiến gì về tình trạng này.
Trong khi đó, Ông Lương Thế Vinh, thủ khoa đại học quốc gia Hà Nội năm 1463, cho biết phao đo bình xăng cũng nổi, về nguyên tắc là giống quả bưởi,
“Muốn đầy bình xăng thì cứ cho thêm sỏi vào là xong” – ông Vinh kết luận.
Nguồn Tinkhotin
Thứ Hai, 1 tháng 4, 2013
Mình phục mình quá….!!!!!
Một “Thạc sĩ Bờ Hồ bảo mưa đá là “bình thường”, là “đúng quy luật”, là “với quy mô nhỏ nên không thể dự báo trước được”. Bình thường khi mưa đá, to như cái bát tô, khủng như cái xô, chỉ một đêm biến huyện lỵ Mường Khương (Lào Cai) tan hoang như bị đánh bom?
Hôm qua, một vị Thạc sĩ của Trung tâm Dự báo Khí tượng thủy văn TƯ, trên truyền hình dùng 2 từ “bình thường” để nói về những trận mưa đá liên tiếp ở Mường Khương, ở Bắc Hà, ở Simacai, ở Phố Ràng (Lào Cai), ở Vị Xuyên (Hà Giang), ở Võ Nhai, Đồng Hỉ (Thái Nguyên), ở Quan Hóa (Thanh Hóa), ở…
Ngoài việc giải thích đó là bình thường, là “không có gì bất thường so với thế giới”. Các chuyên gia còn bảo nó “đúng quy luật”, là “với quy mô nhỏ nên không thể dự báo trước được”.
Bình thường khi mưa đá, chỉ một đêm biến huyện lỵ Mường Khương tan hoang như bị đánh bom?.
Không có gì bất thường khi những ngôi trường mầm non gần như bị san phẳng?.
“Quy mô nhỏ” là những viên đá ngày 26.3 to cỡ “cái bát tô”, đến ngày 29 đã “to bằng cái xô”?.
Không có gì bất thường vì đến mũ bảo hiểm có tem CR- anh nhà báo nào đó thật thời sự và vui tính- cũng bị đột thủng?.
Và “đúng quy luật” trước một trận mưa đá mà ngay chính Chủ tịch Mường Khương Hoàng Duy Dũng đã rùng mình gọi đó là những trận mưa đá “lịch sử”, là “trăm năm có một”.
Thưa Trung tâm dự báo, những người dân ở Tả Thàng, ở Mã Tuyển không hề biết trước khi giữa đêm “đá trên trời” xuất kỳ bất ý như trời giáng xuống giấc ngủ, xuống hiện tại và cả tương lai của họ.
Thưa các vị Thạc sĩ ngồi phòng máy lạnh ở Hà Nội, ở bản người dao Lũng Pâu, không mái nhà nào còn nguyên vẹn. Không một cây ngô nào còn có thể đứng thẳng. Không một lá đậu nào còn lành lặn.
Và thưa ai đó, 40-50 người dân Tả Gia Khâu giờ đang trú ngụ trong mái nhà duy nhất chưa thủng toàn bộ, trong Trường Mầm non.
Họ đã quá sợ hãi trước những điều các nhà khoa học, sau đó giải thích là “bình thường”.
Thật khó để tìm kiếm một thông điệp gì đó sau lời giải thích với hai chữ “bình thường” của những người đáng lẽ phải có trách nhiệm cảnh báo trước.
Thông điệp, nếu có, chỉ là những trận mưa tàn phá với những viên đá bằng cái bát, bằng cái xô, lao đi như viên đạn, có thể xuyên thủng mũ bảo hiểm, vẫn cứ là “nhỏ”, là không thể báo dự báo trước?
Nhưng thế thì ít nhất nên đổi tên Trung tâm Dự báo thành... Trung tâm Giải thích sau mưa bão.
Tháng 8 năm ngoái, khi cơn bão số 8, bão Sơn Tinh hoành hành trong sự bất lực của kính thưa các loại Thạc sĩ, Tiến sĩ Dự báo, Giám đốc Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia thanh minh trên Thanh niên: “Chúng tôi đã làm hết sức mình”.
Giám đốc Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn T.Ư giải thích việc “bão nhảy” từ dự báo cấp 8, lên cấp 14 trong thực tế như sau: Tuy nhiên khi vào tới nam vịnh Bắc bộ, ngang tỉnh Quảng Trị, chỉ trong buổi chiều 27.10, bão đã ‘nhảy’ từ cấp 12 lên cấp 14. Trong vòng 4 – 5 giờ, việc nhảy cấp này không mô hình đài nào có thể dự báo trước được, kể cả Mỹ và Nhật Bản. Không ai tính toán được là vào tới đó mà bão còn mạnh thêm nhiều như vậy”.
Việt không thể dự báo, Mỹ, Nhật cũng không thể dự báo. Có điều, bão vào Việt Nam chứ không vào Nhật Mỹ.
Riêng chuyện bão đổi hướng, ông Đức, bấy giờ đã có lời giải thích bất hủ “Dự báo chỉ là dự báo thôi”.
Dự báo chỉ là dự báo. Và nhỏ nên không thể dự báo.
Cứ tạm chép lại ra đây những lời lẽ giải thích hay ho của các nhà dự báo.
Trong khi đó, người dân Sông Tranh tiếp tục thử thách thần kinh, giờ có lẽ đã chai tê, khi hứng chịu liên tiếp 2 trận động đất khuya 29, rạng sáng 30.3.
Sông Tranh có cái hay là không cần phải các Thạc sĩ - Tiến sĩ Dự báo, chính người dân biết trước lâu lâu lại có động đất, bởi, chẳng có gì khó hiểu.
Đó là thứ động đất nhân tạo...
Nguồn: Blog Đào Tuấn
Thứ Sáu, 15 tháng 3, 2013
Việt Nam hãy chọn hoa xấu hổ là quốc hoa
Cả ngày lang thang trên xứ nét, mãi mới thấy có thứ này hay hay, ủn lên cho vui lốc.
Cái này mình chộp ở huyện ủy Sơn Dương- Tuyên Quang
Ngay từ cái tên của mình, hoa xấu hổ đã gợi nhắc một phẩm chất cần có của con người: lòng tự trọng. Biết xấu hổ là còn lòng tự trọng, đó là điều vô cùng cần thiết, thậm chí không thể thiếu.
Câu chuyện bình chọn quốc hoa cách đây 3 năm mấy ngày nay lại nóng trở lại khi trực tiếp Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch được giao chủ trì phối hợp với các tổ chức có liên quan để nghiên cứu đề xuất việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân và cách lựa chọn suy tôn quốc hoa.
Đến thời điểm này, trên trang web bình chọn Quốc hoa của Bộ VH-TT-DL, hoa sen được bình chọn với hơn 62%, tiếp theo là hoa đào (hơn 15%), hoa mai (hơn 14%), hoa ban (4,4%). Dù chiếm ưu thế với tỉ lệ áp đảo nhưng có không ít người tỏ ra không đồng tình với việc lựa chọn hoa sen.
Một nhà văn hóa cho hay hoa sen dù thân thuộc và gần gũi với người dân nhưng đối với thế giới, nó không đặc trưng cho Việt Nam. Việt Nam cũng không phải là nơi có nhiều sen đẹp và cũng không có loài sen nào đặc trưng. Thậm chí ở khu vực Đông Nam Á, nhiều nước có sen đẹp hơn Việt Nam.
Thêm vào đó, các sản phẩm văn hóa có sử dụng hình ảnh của sen đều bị ảnh hưởng bởi Phật giáo mà nguồn gốc của Phật giáo lại bắt nguồn từ Ấn Độ và nước này cũng đã chính thức chọn hoa sen trắng làm Quốc hoa. Ngoài Ấn Độ, không ít quốc gia đã chọn hoa sen làm Quốc hoa.
Chỉ lý do đó đã đủ khiến dư luận băn khoăn, có nên chọn đại diện hoa của đất nước giống nhiều nước khác như vậy. Dư luận lo lắng bởi các đề cử khác cũng vấp phải điểm nọ điểm kia chưa phù hợp: hoa đào chỉ sống ở xứ lạnh trong khi mai thì không thể thiếu nắng ấm, hoa ban chỉ có ở vùng núi Tây Bắc... Ấy là người ta chưa biết rằng, ở Việt Nam, có một loài hoa dại mọc ở hầu hết các vùng quê, đẹp dịu dàng nữ tính, đầy đủ tiêu chuẩn để trở thành quốc hoa, loài hoa trinh nữ (hay còn gọi là hoa xấu hổ).
Hoa xấu hổ đã tồn tại từ rất lâu ở nước ta. Nó đã đi vào trong truyền thuyết, trong những câu truyện cổ tích Việt Nam, từ biết bao thế hệ. Tiêu biểu trong số đó là câu chuyện buồn về người con gái đoan trang thùy mị.
Ngày xửa ngày xưa có một người con gái đẹp như tiên sa, nụ cười của nàng còn đẹp hơn cả hoa ban mai vừa nở… Nàng có biết bao nhiêu chàng trai si mê đến ngỏ lời và chỉ chờ nàng ban tặng một cái nhìn, một nụ cười. Nhưng nàng là người đoan trang nên chỉ yêu có một lần và lấy người đó làm chồng.
Nàng hạnh phúc trong cuộc sống được yêu thương chiều chuộng, nhưng chồng nàng là người không có chức cao quyền trọng. Vì vậy mà trong những lễ hội là nơi có thể gặp gỡ biết bao kẻ có thế lực nàng ngày càng thấy mình nhỏ bé và buồn chán, thất vọng vì chồng mình.
Sự đời trớ trêu, sự phản bội của nàng phải trả giá: mỗi lần chồng nàng âu yếm là nàng co mình lại và héo hon từng ngày rồi qua đời. Sau đó, trên mộ của nàng mọc lên một loài cây cứ có người chạm vào lại co mình lại. Loại cây đó người đời đặt tên là là cây xấu hổ. Chỉ một câu chuyện này cũng đủ minh chứng rằng, đây là loài hoa gắn liền với truyền thống dân tộc.
Về tính phổ biến, không cần phải bàn cãi nhiều vì đó là hoa dại, với sức sống mãnh liệt của một loài cây dại. Hoa xấu hổ dù chỉ là một loài hoa nhỏ nhưng nó là biểu tượng cho sức sống bền bỉ, khả năng thích nghi mãnh liệt khi có thể tồn tại và phát triển ở khắp các vùng trong cả nước. Người ta có thể tìm thấy nó ở mọi nơi, từ trong cánh rừng cho tới khoảng đất ven ruộng. Chưa kể, Việt Nam là một đất nước nhiệt đới ẩm gió mùa nên cây cối, các loài hoa và cỏ dại cũng là một đặc trưng tiêu biểu cho đới khí hậu này. Vì thế, chọn hoa dại làm quốc hoa hẳn cũng phù hợp với điều kiện địa lý tự nhiên của đất nước.
Hoa xấu hổ cũng đại diện cho tính cách người con gái Việt. Sống sát đất đen, loài hoa đó vẫn giữ sự e ấp, thẹn thùng. Và nó đẹp, màu tím hồng phơn phớt trên những nhụy hoa mỏng như tơ khiến cho bất cứ chợt nhìn thấy đều dâng lên cảm xúc nhẹ nhàng thư thái. Và nó cũng là biểu tượng của sự thủy chung, đức tính được đề cao nhất của người phụ nữ Việt.
Hơn nữa, dù chỉ là một loài cỏ dại nhưng hoa xấu hổ lại là biểu tượng của tinh thần bất khuất của dân tộc. Dù có bất kỳ dự tác động, hay ảnh hưởng nào, cây trinh nữ vẫn giữ nguyên phẩm chất của mình, co lại nhưng không vì thế mà dần tàn lụi, ngay sau đó lại vươn lên mạnh mẽ hơn nữa.
Một lý do cũng không kém phần quan trọng, ngay từ cái tên của mình, hoa xấu hổ đã gợi nhắc một phẩm chất cần có của con người: lòng tự trọng. Biết xấu hổ là còn lòng tự trọng, đó là điều vô cùng cần thiết, thậm chí không thể thiếu. Cuộc sống hiện đại khiến nhiều người đánh mất sự biết xấu hổ, cho nên, khi nhìn thấy quốc hoa là loài hoa này, họ sẽ giật mình nhận ra điều mà họ đang thiếu.
Với những phẩm chất và đặc tính như vậy, hoa xấu hổ xứng đáng trở thành quốc hoa của Việt Nam. Hơn nữa, hiện nay chưa có nước nào trên thế giới chọn loài hoa này làm Quốc hoa nên lựa chọn đó cũng góp phần tạo nên nét đặc trưng, riêng biệt của du lịch Việt.
Lê Minh/Phunutoday
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)




