Chủ Nhật, 24 tháng 12, 2017
Chủ Nhật, 26 tháng 11, 2017
Cải cách
He he he…lý do của sự cải
tiến chữ, theo ông cụ Hiền là chữ quốc ngữ không triệt để theo nguyên tắc mỗi
chữ chỉ biểu đạt một âm vị, và mỗi âm vị chỉ có một chữ cái tương ứng biểu đạt.
Cụ
đề xuất tương đối táo bạo, giảm số lượng ký tự từ 38 xuống 31 chữ bằng cách
thay ng bằng q; đ bằng d; c, k, q bằng k; ph bằng f; s, x bằng s; gi, d, r bằng
z; nh bằng n’; th bằng w; v.v. Mà đó mới chỉ là phụ âm, còn cải tiến về nguyên
âm thì cụ hứa hẹn sẽ công bố vào tháng 3/2018. Anh Zũng, bạn mình trên nét đánh
giá- Không khó để thấy rằng đề xuất của cụ rất bấp bênh về mặt thực tiễn:
1/Trước hết, những thay
thế như ng bằng q, th bằng w, … sẽ gây khó khăn không đáng có khi học sinh học
ngoại ngữ vì chữ Việt trở thành một ngoại lệ duy nhất trên thế giới: không có hệ
chữ viết Latin nào lại gán cho các con chữ q, w một cách phát âm như thế.
2/Cách viết cải tiến của
ông dựa vào tiếng Hà Nội, do đó việc nhập một ch-tr, s-x, gi-d-r sẽ tạo ra hàng
loạt các từ đồng tự (homograph), gây trở ngại cho việc nhận hiểu nghĩa từ: chẳng
hạn các từ tra và cha đều viết là ca; sa và xa đều viết là sa; gia, da và ra đều
viết là za. Đó là chưa kể tại sao lại loại trừ sự phân biệt tr-ch, s-x, d-r vốn
phổ biến ở các phương ngữ khác, viện lý do phải căn cứ vào tiếng Hà Nội.
3/Việc nghiên cứu 30
năm của ông về việc cải tiến chữ Quốc ngữ vẫn để lộ khuyết điểm rất khó hiểu: của
và quả vốn đọc rất khác nhau lại đều được viết là kủa, vi phạm cái nguyên tắc
do chính ông đề ra: “mỗi chữ chỉ biểu đạt một âm vị, và mỗi âm vị chỉ có một chữ
cái tương ứng biểu đạt”.
4/Sự cải tiến một cách
quyết liệt như thế sẽ tạo ra một đứt gãy văn hóa giữa các thế hệ, giữa những
người chỉ biết cách viết “mới” với di sản tư liệu chữ Quốc ngữ “cũ”.
5/Muốn khắc phục phần
nào (chỉ phần nào thôi) sự đứt gãy văn hóa đó, phải tốn một khoản tiền khổng lồ
để chuyển kho tư liệu vốn được viết theo cách viết “cũ” sang cách viết “mới”.
Mời đọc Kiều của cụ
Nguyễn Tiên Điền:
Những người bạn của tôi đã “chạy” biên chế như thế!
Hình minh họa
Nhiều giáo viên vì mong mỏi
và nuôi dưỡng ước mơ vào biên chế mà đánh đổi biết bao nhiêu cơ duyên, tuổi xuân,
tiền bạc… nhưng không có kết quả.
Có
đường là “chạy”
Nhiều cử nhân ngành sư phạm
tốt nghiệp ra trường nhưng phải chạy đôn chạy đáo để xin việc. Chạy vạy đủ kiểu
và nhiều trường hợp phải chấp nhận đánh đổi mọi thứ để được vào biên chế.
Câu chuyện về một cô giáo hợp
đồng ở Tây Nguyên sẵn sàng “đổi tình lấy biên chế” với vị Hiệu phó không còn là
chuyện hiếm trong môi trường giáo dục ngày nay.
Nỗi đau của giáo viên hợp đồng
không chỉ phải “chạy” bằng tiền, bằng tuổi thanh xuân mà còn phải đánh đổi bằng
tấm thân.
Một suất biên chế trở thành
nỗi ao ước của bao giáo viên nhưng đó cũng là miếng mồi béo bở cho các lãnh đạo
đưa ra mua bán, đổi chác.
Cách đây ít ngày, một người
bạn của tôi, sau bao nhiêu năm ròng rã xa quê ở Thanh Hóa để vào một huyện miền
núi tỉnh Lâm Đồng dạy hợp đồng đã nhắn tin buồn bã “Mình phải nói với mẹ mình rằng
‘Con lại sai nữa rồi’”.
Cậu bạn ấy tên Hưng, từng là
học sinh giỏi có tiếng của một trường công lập tại Thanh Hoá.
Năm học 2006-2007 Hưng thi Đại
học. Nhiều người khuyên với lực học của Hưng nên thi vào khối các ngành kỹ thuật
như xây dựng, giao thông hoặc khối các ngành kinh tế để sau này dễ có việc làm
và lương bổng cao.
Nhưng sau khi đắn đo, Hưng
quyết định thi sư phạm Hóa - Trường Đại học Hồng Đức. Với suy nghĩ, học sư phạm
sẽ đỡ cho cha mẹ gánh nặng học phí.
Cha mẹ, người thân khuyên
Hưng nên thay đổi suy nghĩ vì lo chuyện thất nghiệp. Hưng vẫn quyết định theo
nghề một phần vì yêu nghề, phần vì kinh tế gia đình.
Kèm theo đó, Hưng luôn trấn
an rằng “nghề nào có tài cũng sẽ được trọng dụng”.
Ra trường vài năm, trong khi
các bạn cùng trang lứa đã nghề nghiệp ổn định thì Hưng vẫn trầy trật. Sau nửa
năm thất nghiệp, Hưng xin đi dạy hợp đồng.
Gần 3 năm ròng rã dạy hợp đồng
với mức lương tính theo giờ dạy. Trọn tháng thu nhập vẻn vẹn chưa đầy 1,5 triệu
đồng.
26 tuổi, Hưng được một người
quen giới thiệu vào Lâm Đồng đi dạy sẽ có đường “chạy” một suất vào biên chế.
Nghe theo, Hưng và gia đình
quyết định vay tiền để nhờ người quen "gửi gắm".
Ban đầu là dạy hợp đồng, và
được hứa “sau nửa năm sẽ cất nhắc vào biên chế”. Nhưng lời hứa của người quen cứ
thế xa dần.
Bước sang năm thứ 4 đi dạy hợp
đồng, Hưng vẫn chỉ nhận một lời hứa “gắng chờ chỉ tiêu”. Gần 30 tuổi Hưng vẫn
không thể tự nuôi sống mình bằng nghề.
Trước kia, Hưng tự hứa với
lòng sẽ tâm huyết gắn bó với nghề và phụng dưỡng cha mẹ già yếu.
Nhưng khi cái tuổi 30 mà
trong tay chỉ hai bàn tay trắng. Ngày đi dạy, tối phải đi giữ xe thuê cho quán
cà phê nhưng vẫn không thể đủ để nuôi bản thân, Hưng đã không thực hiện được ước
mơ của mình.
Ngược
xuôi vì biên chế
Một người bạn khác, tên là
Châu, quê ở Quảng Bình cùng học ngành sư phạm với tôi.
Sau khi ra trường được 2
năm, Châu xin vào dạy hợp đồng tại một trường cấp 2 ở Quảng Bình và tìm cơ hội
để vào được biên chế nhưng mãi vẫn chỉ là giáo viên dạy hợp đồng.
Mỗi năm, cứ hết hợp đồng ở
trường này, Châu lại xin sang trường khác dạy, có khi phải đi xa nhà gần 20 km.
Sau khi nghe mọi người
khuyên nên đi xa để tìm cơ hội. Dù gia đình neo người, ba mất sớm chỉ còn hai mẹ
con, nhưng Châu vẫn quyết định xin vào dạy tại một huyện miền núi tỉnh Kon Tum.
Hơn hai năm trôi qua nhưng
con đường vào biên chế của Châu vẫn chưa hề mở.
Nhiều người gợi ý cô chung
chi gần trăm triệu để có một suất biên chế nhưng gia cảnh nghèo khó, lương hợp
đồng không đủ sống thì lấy đâu ra số tiền ấy mà “chạy”.
Cuộc sống khó khăn, cô lại
quyết định rời Kon Tum và về Sài Gòn với suy nghĩ: “mảnh đất này sẽ dễ tìm cơ hội
hơn”.
Khi về Sài Gòn, cầm tấm bằng
đại học sư phạm chuyên ngành địa lý, cộng thêm thâm niên giảng dạy gần 5 năm
nhưng Châu vẫn chỉ vật vờ với công việc của một giáo viên hợp đồng.
Thời gian chủ yếu của Châu
là đi làm gia sư để trang trải cuộc sống.
Không thể sống nổi được với
nghề và càng không thể có cơ hội vào biên chế, Châu quyết định về lại quê tìm
cơ hội mới.
Đó chỉ là hai trong số nhiều
người bạn của tôi đã phải dở dang ước mơ được làm thầy, làm cô chỉ vì không có
được một suất biên chế.
Các bạn đồng nghiệp khác, có
ai trong hoàn cảnh như thế không?
(Nguồn: GDVN)
Thứ Năm, 9 tháng 11, 2017
Quỳ lạy Jack Ma
Làm giàu là cả sự quan hệ chằng chịt, trong đó tài năng là một
phần, nó như là điều kiện cần. Những lớp học làm giàu, những sách học làm giàu,
những lời khuyên của kẻ giàu có làm bạn giàu được sao? Nếu ai tin vào điều đó,
thì kẻ đó có bộ óc của một baby.
Quá trình làm giàu như là một chiếc xe đạp 2 bánh. Một bánh
là những gì ngoài tầm kiểm soát, bánh còn lại nhà những gì trong tầm kiểm soát.
Những gì thuộc ngoài tầm kiểm soát như cơ hội, nền tảng gia đình, sự hỗ trợ, sự
giúp đỡ, sự may mắn, môi trường làm ăn kinh tế, và hoàn cảnh đất nước bla
bla... Những gì trong tầm kiểm soát như tài năng thiên bẩm, kiến thức, nhân
cách, đạo đức v.v. Thiếu 1 trong 2 thì sẽ khó thành.
Học làm giàu thực ra là học những nghệ thuật ứng xử, nghệ thuật
giao tiếp, nghệ thuật đàm phán, kinh nghiệm nắm bắt cơ hội v.v. Nó là để làm
giàu vốn sống cho bản thân nhằm chống đỡ tốt nghịch cảnh nếu gặp rủi ro, và tối
ưu hóa thuận lợi nếu may mắn đến với mình, chứ đừng nên nghĩ học làm giàu là sẽ
làm giàu được. Ví dụ như thế này cho dễ hiểu, đất nước này bình quân đầu người
có 2.200 USD cho mỗi năm, nếu có kẻ triệu phú đô ắt có kẻ ăn mày. Biết đâu bạn
nghe kời khuyên Jack Ma nhưng bạn lại rơi vào một trong những kẻ túng quẫn, để
cho kẻ khác bóc lột bạn để làm giàu!?
Tài sản quốc gia ít, cơ hội làm giàu vì thế cũng ít đi. Tiền
dồn vào chỗ này thì vơi đi ở chỗ khác đó là điều tất yếu. Nếu ai học làm giàu
mà cũng giàu thì cần gì đến vai trò điều hành kinh tế vĩ mô của chính phủ? Lúc
đó chỉ cần cho mọi người học làm giàu thì họ giàu. Mà dân giàu thì nước giàu. Vậy
dẹp chính phủ? Thực ra cơ hội của của mỗi người đều nằm trong tay chính phủ chứ
không phải trong miệng Jack Ma.
Nếu tôi đặt câu hỏi, rằng giữa bạn và con của Jack Ma ai sẽ
có cơ hội làm giàu dễ hơn? Chắc chắn 100% trả lời con của Jack Ma sẽ làm giàu dễ
hơn bạn nhiều. Vì lý do đơn giản là con cháu gia đình giàu có thì cơ hội làm giàu
lớn hơn, còn con cái gia đình nghèo khó thì cơ hội làm giàu ít hơn, vậy thôi.
Người ta nói "không ai tắm 2 lần trên 1 dòng sông".
Điều đó có ý nghĩa gì? Điều đó nó nói lên rằng, hoàn cảnh đưa đến với một người
nó sẽ không bao giờ có 2 tình huống y hệt nhau, tức hình dáng cơ hội nó luôn
thiên biến vạn hóa. Ở 2 con người khác nhau thì chắc chắn cơ hội cũng hoàn tòan
khác nhau. Cho dù có kéo cả Jack Ma, Bill Gates, và Warren Buffet sang nói chuyện
thì họ cũng sẽ chỉ cho bạn những lời khuyên mà họ đã đúc kết được trong hoàn cảnh
của họ. Bạn lắng nghe để trau dồi phẩm hạnh của mình thì OK, nhưng bạn nghĩ
nghe lời khuyên đó mà làm giàu được như họ thì đừng có mà hoang tưởng. Vì sao?
Đơn giản bạn không phải họ và hoàn cảnh của bạn cũng không giống hòan cảnh của
họ.
Như vậy qua vụ anh bạn quỳ lạy Jack Ma cho ta thấy điều gì?
Giới trẻ có hiểu biết quá nông cạn, tinh thần hèn yếu, và rất dễ dàng đánh mất
sĩ diện. Đấy là điều đáng báo động. Trong một đất nước đói nghèo và đầy rẫy
tham nhũng, thì chính ông Nhà nước mới là kẻ tước mất cơ hội làm giàu của những
ai muốn làm giàu chân chính. Khi đất nước này rơi vào tình trạng bệ rạc như
Venezuela thì đến chén cơm còn không có mà ăn chứ đừng nói đến chuyện làm giàu.
Lúc đó có triệu lời khuyên Jack Ma thì cũng chẳng giúp bạn đủ ăn chứ nói chi đến
làm giàu. Đừng quá ảo tưởng vào các lời khuyên của tỷ phú. Sách Bill Gates, của
Warren Buffet, và sách của Dale Carnegie đầy ra đó, ai đọc đã làm giàu được?
(Nguồn: FB Đỗ Ngà)
Thứ Ba, 26 tháng 9, 2017
Thứ Tư, 2 tháng 8, 2017
Nhân loại đã dùng hết lượng tài nguyên mà Trái Đất có thể đáp ứng
Theo phóng viên TTXVN tại
Geneva, tính đến ngày 2/8, nhân loại đã sử dụng hết lượng tài nguyên mà Trái Đất
có thể tái tạo trong 1 năm.
Như vậy, từ nay cho đến
31/12, người dân trên hành tinh sẽ phải “lạm quỹ” thiên nhiên để đáp ứng các
nhu cầu sống của mình, đó là thông tin từ tổ chức phi chính phủ mang tên Global
Footprint Network (Mỹ) và Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) công bố ngày
1/8.
Các tính toán của Global
Footprint và WWF xem xét lượng đến lượng khí thải carbon, nguồn tài nguyên tiêu
thụ trong các lĩnh vực như thủy sản, chăn nuôi gia súc, cây trồng, xây dựng và
sử dụng nước.
Năm ngoái, thời điểm nhân loại
dùng hết lượng tài nguyên mà Trái Đất có thể đáp ứng cho cả năm là ngày 3/8. Mặc
dù tốc độ sử dụng tài nguyên đã có xu hướng chậm lại từ 6 năm nay, thời điểm
mang tính biểu tượng này - ngày đánh dấu các nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ của
nhân loại đã vượt quá những gì Trái Đất có thể phục hồi trong một năm, "vẫn
tiếp tục tịnh tiến xa hơn so với mốc ngày 31/12".
Hạn hán miền Tây
Các tổ chức này cảnh báo để
đáp ứng như cầu của nhân loại, mỗi năm loài người cần tiêu thụ lượng tài nguyên
gấp 1,7 lần khả năng đáp ứng của Trái Đất và đi kèm với thực tế này là rất nhiều
hậu quả như tình trạng thiếu nước, sa mạc hoá, xói mòn đất, suy giảm năng suất
nông nghiệp, suy giảm nguồn dự trữ hải sản, rừng cạn kiệt, nhiều loài động vật
biến mất.
Global Footprint và WWF cũng
cho biết "các dấu hiệu đáng khích lệ" chỉ ra rằng nhân loại có thể đảo
ngược xu hướng lạm dụng tài nguyên thiên nhiên. Mặc dù nền kinh tế thế giới ghi
nhận tăng trưởng, "lượng khí thải CO2 gắn với tiêu thụ năng lượng không
tăng lên vào năm 2016 và đây cũng là năm thứ 3 liên tiếp như vậy,” điều này có
thể được giải thích phần nào bởi sự phát triển đáng kể các loại năng lượng tái
tạo trong sản xuất điện./.
(TTXVN)
Cô gái trẻ nhường ghế cho cụ ông...
Vào những ngày giáp tết, mỗi
con tàu từ Nam ra Bắc lại đông nghìn nghịt người chen kẻ lấn. Và trên chuyến
tàu từ Sài Gòn đi Hà Nội năm ấy có một cô gái gầy yếu, có lẽ chỉ trạc 20 tuổi.
Cô gái mảnh mai đứng nép vào hàng ghế trên toa tàu, vậy mà vẫn bị hành khách xô
đẩy làm cho nghiêng ngả. Ngay gần cô là một ông lão ngồi bên cạnh cửa sổ. Ông
đang vui vẻ kể với mọi người rằng ông thật may mắn khi mua loại vé đứng mà vẫn
tìm được một ô ghế trống trên tàu.
Nhìn thấy cô gái bé nhỏ giữa
đám người đông đúc, ông lão quan tâm hỏi: “Cháu gái à, cháu về đâu vậy?”
“Dạ, cháu về Hà Nam ông ạ”.
“Thế thì phải chiều tối mai
mới đến nơi, xa như vậy mà cháu phải đứng thế này thì chịu sao được! Thế này
đi, khi nào ông xuống cháu có thể ngồi vào đây.”
“Dạ, thế cũng được ạ. Cảm ơn
ông.” Cô gái nói với giọng nghẹn ngào, khuôn mặt tỏ ra đầy biết ơn.
Một lát sau khi nhân viên
soát vé đi kiểm tra, anh nhìn đi nhìn lại vé của cô gái rồi ngạc nhiên hỏi:
“Không phải vé của cô là vé ngồi sao? Tại sao phải đứng thế này?” Rồi anh liếc
về phía ông lão đang ngủ và hỏi cô: “Sao cô không nói với ông ấy? Chẳng lẽ ông ấy
không biết đó là chỗ của cô à?”
Cô gái mỉm cười, nhìn về
phía ông lão ra vẻ thông cảm: “Ông ấy chắc cũng 70 tuổi rồi, nếu để ông đứng
thì cũng tội…”. Cô cúi mặt xuống, hai má ửng hồng vì ái ngại.
Nhân viên soát vé gật đầu,
có lẽ anh cũng hiểu được tấm lòng của cô gái trẻ. Anh nhỏ nhẹ: “Đi theo tôi,
tôi có thể giúp cô tìm một chỗ ngồi”. Những người xung quanh đều nghe thấy, họ
khen cô tốt bụng và biết nghĩ cho người khác, rồi họ dẹp sang nhường lối để cô
đi.
Cô gái cúi xuống, lấy từ dưới
ghế ra cây nạng của mình…
Những người xung quanh vừa rồi
bị cảm kích tấm tòng lương thiện của cô, nay lại càng chấn động hơn nữa.
Người ta chọn “lương thiện”
– không phải vì họ yếu đuối, mà vì họ hiểu rằng “nhân chi sơ, tính bản thiện”.
Lương thiện, ấy chính là bản chất sơ khai và căn bản của loài người.
Người ta chọn “nhường nhịn”
– không phải vì họ đang chùn bước, mà bởi họ hiểu rằng “nhẫn một chút sóng yên
gió lặng, lùi một bước biển rộng trời cao”. Biết nhường nhịn, đó cũng là làm
giàu có thêm tâm hồn mỗi người.
Người ta chọn “bao dung” –
không phải vì họ hèn nhát, mà bởi vì họ hiểu bao dung là phẩm chất cao đẹp và một
phẩm hạnh cao quý.
Người ta chọn “hồ đồ” –
không phải vì họ thực sự ngốc nghếch, mà vì họ không muốn so đo hay tranh cãi.
Im lặng mỉm cười để quan sát sự đời mới thực sự là việc khó làm.
Người ta chọn “tha thứ” –
không phải vì họ không có nguyên tắc, mà bởi vì họ hiểu rằng người nhận được
tha thứ sẽ không cố tình phạm sai lầm lần nữa.
Người ta chọn “trung thực”,
có sao nói vậy – bởi vì họ hiểu rằng, nịnh hót xu bợ chỉ là đối phó, sự thật tuy
mất lòng nhưng đó là lời có trách nhiệm.
Người ta chọn “tình nghĩa” –
bởi vì đối với họ được ở bên bạn bè là cơ hội hiếm có. Trăm năm chỉ trôi qua
trong nháy mắt, vì vậy họ biết sống hết mình cho trọn tình vẹn nghĩa tới hơi thở
cuối cùng.
Ghi nhớ ân tình của người
khác, học cách giúp đỡ người khác, và biết sống hết mình vì mọi người. Trong cuộc
sống này, những tấm lòng bao dung và nhân ái luôn khiến lòng người phải cảm động.
Cho dù đó là ai, thân quen hay xa lạ, nhưng tình yêu thương trao nhau sẽ làm cảm
động đất trời. Họ chỉ là một cá nhân nhỏ bé, nhưng lại có thể dùng khả năng của
mình để giúp đỡ người khác và làm cho thế giới này trở nên ấm áp hơn.
(Nguồn: Internet)
Thứ Tư, 26 tháng 7, 2017
Thứ Ba, 25 tháng 7, 2017
Vì sao gần một nửa người Việt cùng mang họ Nguyễn?
Chắc hẳn ai cũng từng nghe hoặc từng quen biết một người
họ Nguyễn. Trên trường quốc tế, đó là một dấu hiệu nhận diện người gốc Việt.
Nhưng tại sao gần 40% người Việt lại có chung một họ Nguyễn này?
Nếu căn cứ theo tỉ lệ này, cứ ba người dân Việt Nam có ít
nhất một người mang họ Nguyễn. Những người mang họ Nguyễn trên toàn thế giới có
khoảng 90 triệu người, tức là nhiều thứ ba sau họ Lý và họ Trương của Trung Quốc.
Cấu tạo tên họ của người Việt khác với người Trung Quốc,
Hàn Quốc và Nhật Bản. Tên họ người Việt Nam phân thành 3 phần: Họ – tên đệm –
tên. Ở những trường hợp chính thức, thông thường người ta chỉ gọi tên. Tên người
thường là ba chữ hoặc bốn chữ, cũng có khi là 2 chữ (ví dụ Nguyễn Trãi).
Vậy thì tại sao họ Nguyễn lại trở thành dòng họ lớn nhất
và đông nhất ở Việt Nam? Có rất nhiều nguyên nhân lịch sử cho hiện tượng này.
Thời cổ đại
Vào thời Nam Bắc triều (420 – 589) Trung Hoa thiên hạ đại
loạn. Vì để lánh nạn mưu sinh, một bộ phận gia tộc họ Nguyễn sống tại An Huy,
Chiết Giang, Hồ Bắc… di cư sang Việt Nam.
Bộ phận người này sinh sống ở Việt Nam, qua thời gian đã
đồng hoá cùng dân bản địa để tạo nên thêm một bộ phận đáng kể người Việt có họ
Nguyễn. Sau đó vào thời Ngũ Đại (5 triều đại nối nhau cai trị Trung Nguyên: Hậu
Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu 907-960), dần dần lại có nhiều người
họ Nguyễn di chuyển về phía Nam, bổ sung thêm vào số lượng người họ Nguyễn bản
địa ở Việt Nam.
Sự phát triển của dòng họ lớn nhất Việt Nam cũng gắn liền
quan hệ với triều đại nhà Trần. Trước triều Trần là giai đoạn trị vì của nhà Lý
(1009 – 1225). Từ khi Lý Công Uẩn lên ngôi năm 1009 sau khi giành được quyền lực
từ tay nhà Tiền Lê đến khi Lý Chiêu Hoàng bị ép thoái vị để nhường ngôi cho Trần
Cảnh, tổng cộng là 216 năm.
Những năm đầu tiên, Trần Cảnh còn nhỏ tuổi, toàn bộ quyền
hành của nhà Trần đều do một tôn thất vai chú của Trần Cảnh là Trần Thủ Độ nắm
quyền. Trong thời gian này, Trần Thủ Độ đã làm một việc trực tiếp ảnh hưởng tới
tên họ của người Việt.
Đó là việc gì? Ðời Trần Thái Tông (1232), sau khi đã đoạt
ngôi nhà Lý, Trần Thủ Ðộ lấy lý do tổ nhà Trần tên Lý, đã bắt tất cả những người
họ Lý là họ dòng vua vừa bị hoán vị còn trốn lẩn trong dân gian phải đổi thành
họ Nguyễn.
Tuy nhiên ý đồ thật sự của Trần Thủ Độ là khai tử dòng
vua Lý để không còn ai nhớ đến họ Lý nữa. Còn lý do vì sao khi đó ông lại lựa
chọn họ Nguyễn để thay họ Lý, cho tới nay vẫn chưa được lý giải rõ, cũng có thể
đó là lựa chọn một cách ngẫu nhiên.
Tuy nhiên trong sử sách chỉ ghi chép lại đơn giản như
sau: “Sau khi nhà Trần nắm giữ quyền lực, tất cả những người mang họ Lý trong đất
nước đều phải đổi sang họ Nguyễn”.
Có một điều càng không thể tưởng tượng được, đó là đổi họ
đã trở thành một tục lệ của người Việt Nam thời cổ đại. Cứ mỗi khi một triều đại
mới được thay thế thì tất cả những người mang họ của triều đại trước sẽ phải sửa
thành họ Nguyễn. Trong lịch sử Việt Nam, đã từng có nhiều sự kiện như vậy khiến
số người mang họ Nguyễn đã nhiều lại càng nhiều hơn.
Năm 1232, nhà Lý suy vong, Trần Thủ Độ đã bắt con cháu của
dòng họ Lý chuyển sang họ Nguyễn. Khi Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần, ông ấy đã giết
hại rất nhiều con cháu họ Trần. Vì thế, sau khi nhà Hồ sụp đổ, con cháu của họ
Hồ vì sợ trả thù nên tất cả đã đổi sang họ Nguyễn.
Năm 1592, nhà Mạc suy tàn, con cháu của dòng họ Mạc cũng
lại đổi họ sang Nguyễn. Khi triều đại nhà Nguyễn nắm quyền năm 1802, một số con
cháu họ Trịnh cũng vì sợ trả thù nên lần lượt đổi hết họ sang Nguyễn, số còn lại
trốn lên Bắc sang Trung Quốc.
Trong luật pháp của nhà Nguyễn, những người mang họ Nguyễn
được hưởng nhiều đặc lợi, được triều đình ban thưởng. Vì thế các tội nhân cũng
theo đó đổi họ sang Nguyễn nhằm tránh bị bắt tội, hưởng thêm ân sủng.
Cùng theo sự thay đổi của các triều đại những người mang
họ Nguyễn càng ngày càng đông lên, cuối cùng lập ra triều Nguyễn. Triều Nguyễn
cũng là triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam.
Thời cận đại
Trước khi đề cập tới quãng thời gian này, cần nhấn mạnh một
đặc điểm của các dòng họ Việt Nam thời cổ đại. Vào thời cổ đại, dân chúng ở tầng
lớp thấp bình dân thường không mang họ, chỉ có các vương tôn quý tộc mới có họ.
Vào thế kỷ 19, khi Việt Nam trở thành thuộc địa của người
Pháp, lần đầu tiên người Pháp có cuộc điều tra về dân số với quy mô lớn nhất
trên khắp Việt Nam.
Trong quá trình điều tra họ gặp phải một vấn đề phiền phức
lớn, đó là: Đại bộ phận người dân ở tầng lớp thấp bình dân đều không có họ, nên
không có cách nào để thống kê tổng kết.
Vào lúc này phải làm như thế nào? Người Pháp liền nghĩ ra
một cách, trước đây triều Nguyễn chẳng phải là triều đại cuối cùng của người Việt
sao, vậy những người không mang họ đó để họ đều mang họ Nguyễn. Dòng họ này, bởi
thế lại được mở rộng với quy mô lớn chưa từng có thêm một lần nữa.
Kỳ thực cho dù không có người Pháp, họ Nguyễn vẫn là một
dòng họ lớn nhất Việt Nam, tuy nhiên để chiếm một tỉ lệ lớn 40% như vậy, không
thể không kể tới tác động của người Pháp.
Bây giờ, khi ra đường, bất kể gặp một người họ Nguyễn
nào, bạn hãy nói rằng họ đang có một tên họ đặc biệt nhất Việt Nam. Còn nếu
đang mang họ Nguyễn, có lẽ bạn nên đọc bài viết này.
(Nguồn: Kiên Định)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)





