Thứ Tư, 27 tháng 11, 2019

Con người đã đạt đến giới hạn trí tuệ, không bao giờ hiểu hết vũ trụ?



Nhiều người cho rằng bộ não con người được cấu trúc để giải quyết các vấn đề thực tế ảnh hưởng đến sự tồn tại và sinh sản, chứ không phải để làm sáng tỏ những bí ẩn của vũ trụ.

Khoa học đã đạt được những tiến bộ to lớn trong thế kỷ qua, nhưng sự hiểu biết của loài người về tự nhiên vẫn vô cùng hạn chế. Các nhà khoa học chưa thể kết hợp được thuyết tương đối rộng với vật lý lượng tử, thậm chí không xác định được vật chất tối và năng lượng tối - thành phần chủ chốt tạo nên vũ trụ - là gì.

Thuyết vạn vật (Theory of Everything) vẫn còn là thứ quá xa vời với các nhà khoa học. Và còn rất nhiều câu hỏi hóc búa khác, bao gồm việc ý thức nảy sinh từ vật chất đơn thuần như thế nào.

Nhiều người cho rằng bộ não con người là sản phẩm của sự tiến hóa theo thời gian. Nó được thiết kế để giải quyết các vấn đề thực tế ảnh hưởng đến sự tồn tại và sinh sản của chúng ta, chứ không phải để sáng tỏ cấu trúc vũ trụ.

Những vấn đề của người tinh khôn

Do đó, nhiều triết gia bi quan cho rằng có những điều chúng ta sẽ không bao giờ hiểu được, khoa học của con người ngày nào đó sẽ đạt đến giới hạn cuối cùng. Và có thể chúng ta đã đạt đến giới hạn đó rồi. Tuy nhiên, liệu đây có phải là quan niệm đúng?

Theo nhà nghiên cứu Maarten Boudry thuộc Đại học Ghent (Bỉ), nếu cho rằng chỉ con người mới có sức mạnh nhận thức, điều khiến chúng ta khác biệt với các loài động vật khác, bạn sẽ không hiểu hết được thuyết tiến hóa của Darwin vốn nhận định Homo Sapiens - người tinh khôn cũng chỉ là một phần của giới tự nhiên.

Có rất nhiều điều chúng ta không thể làm được với bộ não trần trụi của mình. Nhưng Homo Sapiens là loài chế tạo công cụ, bao gồm một loạt các "công cụ nhận thức". Nhờ đó con người có thể mở rộng được sự hiểu biết của mình.

Ví dụ, các cơ quan cảm giác của chúng ta không thể phát hiện tia UV, sóng siêu âm, tia X hoặc sóng hấp dẫn. Nhưng nếu được trang bị một số công nghệ tương thích, bạn có thể nhận ra tất cả những thứ đó.

Để khắc phục hạn chế về nhận thức, các nhà khoa học đã phát triển bộ công cụ và kỹ thuật như: kính hiển vi, phim X quang, máy đếm Geiger, máy dò vệ tinh vô tuyến,...

Tất cả các thiết bị này mở rộng tầm hiểu biết của chúng ta bằng cách "chuyển đổi" những quy tắc vật lý thành một số định dạng mà cơ quan cảm giác con người có thể nhận biết được. Thực tế, có phải chúng ta đã cảm nhận được tia UV? Theo cách nào đó, có thể nói là như vậy.

Bằng cách tương tự, chúng ta sử dụng các vật thể vật lý (như giấy và bút chì) để tăng "dung lượng" bộ nhớ cho bộ não trần trụi. Theo nhà triết học người Anh Andy Clark, tâm trí chúng ta hoàn toàn vượt ra khỏi da và hộp sọ, nó xuất hiện dưới dạng máy tính xách tay, màn hình máy tính, bản đồ hoặc những tập tin lưu trữ,...

Vai trò của toán học

Toán học là một cách tuyệt vời khác để mở rộng nhận thức. Nó cho phép con người thể hiện các khái niệm mà chúng ta không thể nghĩ ra bằng bộ não trần.

Chẳng hạn, không nhà khoa học nào có thể vẽ ra được biểu đồ đại diện cho tất cả các quá trình đan xen phức tạp của hệ thống khí hậu. Đó là lý do con người đã xây dựng các mô hình toán học và máy tính để thực hiện công việc nặng nhọc thay cho chúng ta.

Quan trọng nhất, chúng ta có thể mở rộng nhận thức và truyền đạt cho những đồng loại. Điều làm cho loài người trở nên độc đáo là chúng ta có văn hóa, đặc biệt là kiến thức văn hóa tích lũy theo thời gian. Một quần thể bộ não của con người thông minh hơn nhiều so với bất kỳ bộ não riêng lẻ nào.

Không nhà khoa học nào có thể tự làm sáng tỏ những bí ẩn của vũ trụ. Nhưng tập thể sẽ làm được. Như Isaac Newton đã viết, ông ấy có thể nhìn xa hơn khi đứng trên vai người khổng lồ. Bằng cách hợp tác với các đồng nghiệp, các nhà khoa học có thể mở rộng tầm hiểu biết nhanh hơn bất kỳ hoạt động cá nhân riêng lẻ.


Ngày nay, ngày càng ít người hiểu những gì đang diễn ra ở đỉnh cao của vật lý lý thuyết - ngay cả các nhà vật lý. Sự thống nhất cơ học lượng tử và lý thuyết tương đối chắc chắn gây nhiều khó khăn, nếu không các nhà khoa học đã hoàn thành nó từ lâu.

Điều tương tự cũng đúng đối với sự hiểu biết con người về cách bộ não phát triển ý thức, ý nghĩa và ý hướng - intentionality, một trong những khái niệm quan trọng bậc nhất của hiện tượng học (nhánh triết học nghiên cứu cấu trúc của sự cảm quan và ý thức).

Nhưng có lý do chính đáng nào để cho rằng những vấn đề này sẽ mãi mãi nằm ngoài tầm với?

Phát triển hay dừng lại?

Nhà nghiên cứu Maarten Boudry đặt ra một giả thuyết thú vị. Có một nhà nhân chủng học ngoài hành tinh đến thăm Trái Đất khoảng 40.000 năm trước để chuẩn bị báo cáo khoa học về tiềm năng nhận thức của con người.

Liệu loài vượn-người có hiểu được cấu trúc của Hệ Mặt Trời, độ cong của không-thời gian hay thậm chí là nguồn gốc tiến hóa của chính nhân loại.

Khi ấy, khi tổ tiên chúng ta sống trong từng nhóm nhỏ bằng phương pháp săn bắt hái lượm. Dù sở hữu kiến thức khá sâu rộng về động thực vật ở môi trường xung quanh cũng như kiến thức để tồn tại, tổ tiên chúng ta không có khái niệm gì về khoa học.

Họ không có chữ viết, không biết toán học, không sở hữu thiết bị nhân tạo để mở rộng nâng tầm cơ quan cảm giác như các thiết bị nhận biết tia UV, cảm biến nhiệt...

Kết quả là nhà nhân chủng học ngoài hành tinh đánh giá: “Loài người không biết gì về nguyên nhân thực sự của thảm họa thiên nhiên, bệnh tật, thiên thể, sự thay đổi các mùa hoặc bất kỳ hiện tượng tự nhiên nào khác. Tiềm năng nhận thức của loài này rất thấp”.

Nhưng người ngoài hành tinh đó hoàn toàn sai lầm. Về mặt sinh học, loài người không khác mấy so với 40.000 năm trước, nhưng giờ ta đã biết về vi khuẩn và virus, DNA và các phân tử, siêu tân tinh và lỗ đen, phổ điện từ,...

Chúng ta cũng biết về độ cong không-thời gian, thuyết tương đối rộng Einstein. Chúng ta đã có thể "nhìn" đến các vật thể cách xa hàng triệu năm ánh sáng, cả những vật thể cực kỳ nhỏ bé (vi khuẩn, virus, hạt hạ nguyên tử,...), những thứ ngoài tầm với của các cơ quan cảm giác con người.

Câu chuyện giả sử ở trên là động lực cho sự phát triển của nhân loại. Ai biết được những thiết bị nào sắp tới có thể khắc phục những hạn chế sinh học của chúng ta? Ai dám khẳng định một bài toán sẽ mãi mãi không bao giờ tìm được lời giải?
(Nguồn: Zing)

Thứ Năm, 21 tháng 11, 2019

Sợ ta không?


XÃ HỘI NHÂN BẢN KHÔNG COI NGHỀ NÀO LÀ NGHỀ CAO QUÝ MÀ CHỈ CÓ CON NGƯỜI LÀ CAO QUÝ




Nghề giáo có thực sự là một nghề cao quý?

Tại sao người phương Tây không coi trọng người làm nghề giáo?

Truyền thống tôn sư trọng đạo tư tưởng Nho Khổng thoạt nghe qua thì nhân văn cao quý nhưng tiềm ẩn những vấn đề bất cập. Nó khiến vai trò của người thầy được đề cao quá mức và khiến người học phải lệ thuộc vào thầy. Ngày xưa, được đi học là một đặc quyền và những người được gọi là “biết chữ thánh hiền” chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Chính vì những lời của Khổng Mạnh dạy được coi là tuyệt đối đúng, là chân lý mà những người học Nho đối với những người dân quê răng đen mắt toét mà nói nếu không là thần thánh thì cũng là đấng tài năng vượt bậc. Làng nào có được một ông thầy đồ biết võ vẽ vài chữ Nho thì cung kính bưng rước như đối với bậc vĩ nhân. Sự tôn sùng tuyệt đối tạo ra những hệ lụy sau:
a. Đã là thầy thì cấm cãi cho dù thầy có sai đi nữa. Điều này dẫn tới sự lạm quyền của những người làm thầy.
b. Do quá lệ thuộc vào thầy, học sinh không dám tự suy nghĩ và phản biện mà luôn chờ nghe ý kiến của thầy. Điều này giết chết khả năng tư duy độc lập của người đi học, biến người đi học thành nô lệ về tâm thức.
c. Do quá đề cao cái gọi là “đạo thánh hiền” và “chữ thánh hiền”, người học ngày xưa bài xích triệt để những gì không thuộc về ý thức hệ của mình thay vì tiếp thu cái hay cái mới từ nhiều nguồn khác nhau. Việc học thay vì khai phóng người học thì lại trở thành ngục tù về tư tưởng giam hãm người học. Những người nhai lại những kiến thức cũ rích và lỗi thời vẫn luôn tự tin là mình học sâu hiểu rộng mà không biết mình đã lạc hậu và cổ hủ tới mức nào.

Ông tổ của triết học phương Tây Socrates không hề để lại sách vở gì ghi chép lại những điều mình giảng dạy hay đúng hơn là những vấn đề triết học mà ông đưa ra để tranh luận với học trò của mình. Vì sao ư? Ông hiểu rằng những gì ông nói có thể đúng hôm nay nhưng chưa chắc mười năm hay hai mươi năm sau còn đúng. Những lời dạy của ông không phải là chân lý để tôn sùng hoặc để noi theo. Plato, người ghi chép lại những gì Socrates dạy thành sách vở, tuy rất ngưỡng mộ thầy mình nhưng cũng có những tranh cãi nảy lửa với Socrates về những điều mà ông cảm thấy không thỏa đáng. Người thầy duy nhất mà ai cũng phải nghe theo chính là “chân lý dựa trên logic”. Đó là lý do tại sao người phương Tây họ không tôn sùng và dựa dẫm vào người thầy và những giáo điều một cách thái quá. Tôi thích cách nhìn về giáo dục này hơn vì nó thực sự giải phóng con người ra khỏi sự u tối và lệ thuộc về mặt tư tưởng.

Nếu hỏi tôi có suy nghĩ gì về ngày nhà giáo Việt Nam, tôi muốn chia sẻ một vài điều sau:

1. Không có nghề nào là nghề cao quý và cũng không có nghề nào là nghề thấp hèn. Nghề giáo cũng chỉ là một nghề như bao nhiêu nghề khác, không có gì đặc biệt hơn để đáng được tôn vinh một cách thái quá. Là giáo viên, chúng ta cũng chỉ làm việc và được trả lương mà thôi chứ không hề làm không cho ai. Bạn chọn nghề giáo vì cũng như bạn chọn bất cứ một nghề nào khác, có thể vì bạn thích nó, có thể nó hợp với bạn hoặc cũng có thể bạn kiếm được lợi lộc từ nó. Không ai ép bạn và bạn cũng không hi sinh gì cả. Nếu nói về việc xứng đáng được tôn vinh, còn có nhiều nghề khác xứng đáng hơn nghề giáo ví dụ như nghề công nhân vệ sinh đường phố hoặc những người công nhân cầu cống. Họ làm công việc đầy dơ bẩn và nguy hiểm một cách âm thầm lặng lẽ, không ai quan tâm tới, không ai cảm ơn, thậm chí còn bị coi thường nhưng họ đóng góp cho xã hội này nhiều hơn những giáo viên vô lương tâm và vô trách nhiệm.

2. Kiến thức không phải là của chúng ta, chúng ta chỉ là những người truyền đạt lại kiến thức của người khác. Thời đại thông tin ngày nay khiến cho tiếp cận kiến thức dễ dàng hơn bao giờ hết. Không có thầy cô giáo nào có thể giỏi hơn Google hay Wikipedia. Đừng quá tự tin vào những kiến thức của mình đang có mà quên việc học hỏi để nâng cao hiểu biết của bản thân nếu không muốn làm ếch ngồi đáy giếng. Điều quan trọng nhất của người giáo viên ngày nay là cách truyền đạt kiến thức và cách tạo cảm hứng cho học sinh.

Cùng là công việc giảng dạy nhưng thời buổi ngày nay, kẻ bán chữ thì nhiều, còn người thầy chân chính thì ít. Người thầy thực sự và kẻ bán chữ thật ra chỉ khác nhau ba điều cơ bản: 1. Người thầy luôn tìm cách truyền đạt kiến thức hiệu quá nhất cho học sinh của mình còn kẻ bán chữ nhồi kiến thức vào đầu học sinh bất chấp hiệu quả. 2. Người thầy sống có đạo đức và làm gương tốt cho học trò mình. Chính điều này khiến cho người thầy được kính phục. Còn kẻ bán chữ lợi dụng sự kính trọng của học trò để làm điều trái đạo đức. 3. Người thầy tạo cảm hứng và hướng con người tới sự tự do về tư tưởng, còn kẻ bán chữ biến người học thành nô lệ của những thứ tầm thường như điểm số, thành tích hay tiền bạc địa vị.

Chúng ta nên biết ơn những học trò của chúng ta vì họ dạy cho chúng ta cách để trở thành một người thầy tốt hơn. Thay vì cứ ôm trong đầu cái suy nghĩ “không thầy đố mày làm nên” hãy nghĩ ngược lại rằng “không trò, đố thầy dạy ai?” Muốn học trò tôn trọng mình thì mình phải xứng đáng với sự tôn trọng đó và phải tôn trọng lại học trò của mình. Sự tôn trọng phải đến từ hai phía thì tình thầy trò mới bền. Đừng sợ học trò không nhớ đến công ơn của mình, hãy làm tốt trách nhiệm của mình thì tự nhiên học trò sẽ nghĩ tới mình với những tình cảm tốt đẹp nhất.
Truyền thống tôn sư trọng đạo chỉ thực sự đẹp và có ý nghĩa khi nó xuất phát từ tình cảm thật sự. Còn nếu bị lạm dụng và biến tướng mà không dựa trên nền tảng đạo đức thật sự thì đó chỉ là vỏ bọc hình thức mà thôi.

( Nguồn: FB Vien Huynh )

Thứ Ba, 8 tháng 10, 2019

TRUNG QUỐC ĐUỐI LÍ VỤ BÃI TƯ CHÍNH



Đó là quan điểm của các nhà nghiên cứu tại buổi tọa đàm khoa học “Vùng biển Bãi Tư chính và Luật pháp quốc tế”, diễn ra hôm 6/10 tại Hà Nội. Tại buổi tọa đàm, các nhà nghiên cứu khẳng định việc Trung Quốc ngang ngược nói là Bãi Tư chính thuộc chủ quyền của nước này hoàn toàn vô căn cứ. Và Trung Quốc đang cố tình tạo sóng căng thẳng trong vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam “hòng đổi trắng thay đen”.
Theo Đại sứ Nguyễn Trường Giang, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Brunei, nguyên Viện trưởng Viện Biển Đông, Học viện Ngoại giao (Bộ Ngoại giao) trong 6 thập kỷ qua, Trung Quốc luôn tìm mọi biện pháp và kế sách để độc chiếm Biển Đông. Câu chuyện này không còn là mới, nhưng qua thời gian, Trung Quốc càng ngày càng thể hiện họ đang có những tính toán thâm sâu hơn và bất chấp tất cả, kể cả luật pháp quốc tế để đạt mục đích.
Thạc sĩ Hoàng Việt từ Quỹ nghiên cứu Biển Đông và Ban Nghiên cứu Luật Biển và Hải đảo, Liên đoàn Luật sư Việt Nam khẳng định: “Ở đây phải khẳng định rằng Trung Quốc sai. Câu hỏi thứ nhất, Trung Quốc đã có chủ quyền ở quần đảo Trường Sa chưa? Bởi vì Việt Nam tuyên bố chủ quyền và Việt Nam có đầy đủ bằng chứng pháp lý về chủ quyền quần đảo Trường Sa. Thứ hai, trong phán quyết của Tòa Trọng tài trong vụ Philippines kiện Trung Quốc năm 2016, Tòa đã khẳng định rằng không có một cấu trúc thực thể nào của Trường Sa thỏa mãn điều kiện là một đảo cả. Và vì thế nó không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa kèm theo. Thứ ba, Bãi Tư Chính không phải là một đối tượng của yêu sách chủ quyền vì nó luôn chìm dưới mặt nước biển. Trong Luật pháp quốc tế cũng như trong Công ước Luật Biển dù không quy định trực tiếp, nhưng lại gián tiếp quy định những thực thể luôn luôn chìm trong mặt nước, thì không thể gọi là có chủ quyền được”.
Ở một góc nhìn khác, chuyên gia về Biển Đông Thiếu tướng Lê Văn Cương đã chỉ rõ 2 điểm sai của Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị khi đưa ra “cái gọi là Trung Quốc có chủ quyền ở Bãi Tư chính”.
Ông Lê Văn Cương nói: “Cái sai thứ nhất về chính trị. Trung Quốc hoàn toàn không có cơ sở pháp lý để đòi chủ quyền ở Trường Sa. Điều này Tòa trọng tài 2016 đã bác bỏ. Tham chiếu vào hệ thống pháp luật quốc tế hiện đại, Trung Quốc hoàn toàn không có căn cứ. Cái sai thứ 2 về mặt địa chất địa lý. Bãi Tư Chính nằm ngoài Trường Sa, cách Trường sa 600km. Về địa chất giữa Trường Sa và Bãi Tư Chính còn có 1 rãnh sâu nữa”.
Tại buổi tọa đàm hôm 6/10, phần lớn các nhà nghiên cứu đều cho rằng: sau vụ Philippines kiện Trung Quốc lên Tòa Trọng tài Quốc tế hồi năm 2016- khi Tòa Trọng tài lúc ấy ra phán quyết bác bỏ yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với Biển Đông, việc Trung Quốc đưa nhóm tàu HD8 liên tục xâm phạm vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam cho thấy những tính toán mới của nước này. Đó là ý đồ biến vùng biển Bãi Tư Chính thuộc chủ quyền của Việt Nam từ vùng không tranh chấp thành vùng có tranh chấp; tạo sóng căng thẳng trong vùng biển Bãi Tư Chính thuộc chủ quyền của Việt Nam, hòng thực hiện những ý đồ xấu.
Đại sứ Nguyễn Trường Giang nguyên Viện trưởng Viện Biển Đông, Học viện Ngoại giao (Bộ Ngoại giao) phân tích: “Luật pháp quốc tế là cơ sở để bảo vệ các vùng biển của Việt Nam. Các quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 về các vùng biển và quy chế về các vùng biển đồng thời cũng là cơ sở pháp lý quan trọng để chúng ta bảo vệ chủ quyền và các quyền chủ quyền, quyền tài phán và các lợi ích hợp pháp của Việt Nam trong vùng biển của Việt Nam. Bãi Tư Chính là bãi ngầm, thực chất là một phần của đáy biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Đây hoàn toàn không phải là khu vực tranh chấp hay có vùng chồng lấn. Bởi vì Trung Quốc không có bất kỳ cơ sở pháp lý quốc tế nào để đưa ra các yêu sách đối với vùng biển này”.
Các nhà nghiên cứu cũng khẳng định rằng: trước những hành vi ngang ngược của Trung Quốc trên Biển Đông, Việt Nam cần tiếp tục đưa vụ việc Bãi Tư Chính lên án tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Bởi điều 51 trong Hiến chương Liên Hợp Quốc quy định rõ: các quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc có quyền tự vệ trước những âm mưu xâm hại, để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của mình. Và Liên Hợp Quốc sẽ có trách nhiệm thực thi các nguyên tắc của Luật pháp quốc tế bảo vệ các quốc gia yếu thế.

(Nguồn: Blog Trần Nhương)


Thứ Ba, 1 tháng 10, 2019

Sinh con 2020 tuổi Canh Tý tháng nào tốt nhất?




Từ bảng ngũ hành tứ vượng trên đây, cho thấy nếu bạn sinh con năm 2020, bé mang mệnh Thổ thì tháng sinh tốt nhất sẽ nằm trong cột Vượng và Tướng, do đó sinh con 2020 vào mùa Hạ (tháng 4, 5, 6) và các tháng tứ quý (3, 6, 9, 12) thì bé sẽ có vận số tốt nhất.
Theo phong thủy phương đông thì năm âm lịch Canh Tý (2020) sẽ bắt đầu từ ngày 25/1/2020 dương lịch đến hết ngày 11/02/2021, Nếu bạn có kế hoạch sinh con năm 2020 bé sẽ mang mệnh Thổ (Bích Thượng Thổ) cầm tinh con chuột! Trong 12 tháng của năm 2020 thì tùy vào ngày giờ sinh mà vận mệnh tốt xấu của bé sẽ khác nhau.
Việc chọn tháng sinh con được các chuyên gia phong thủy Trung Quốc tính dựa trên bảng ngũ hành tứ vượng, theo tìm hiểu của Dichvuhay.vn thì Vượng nghĩa là sự thịnh vượng (tốt nhất), Tướng còn có nghĩa là vượng vừa (Tốt), Hưu ám chỉ sự suy giảm và Tù tượng trưng cho sự hạn chế. Để biết sinh con 2020 tháng nào tốt, bạn có thể theo dõi bảng tính ngay dưới đây:
Bảng ngũ hành Tứ Vượng ( Quái khí vượng – Suy)
Mùa sinh       Vượng           Tướng            Hưu   
Mùa Xuân (Tháng 1, 2, 3)  Mệnh Mộc     Mệnh Hỏa     Mệnh Thủy   Mệnh Thổ
Mùa Hạ (Tháng 4, 5, 6)       Mệnh Hỏa     Mệnh Thổ      Mệnh Mộc     Mệnh Kim
Mùa Thu (Tháng 7, 8, 9)     Mệnh Kim      Mệnh Thủy   Mệnh Thổ      Mệnh Mộc
Mùa Đông (Tháng 10, 11, 12)       Mệnh Thủy   Mệnh Mộc     Mệnh Kim      Mệnh Hỏa
Tứ quý (tháng 3, 6, 9, 12)   Mệnh Thổ      Mệnh Kim      Mệnh Hỏa     Mệnh Thủy
Từ bảng ngũ hành tứ vượng trên đây, cho thấy nếu bạn sinh con năm 2020, bé mang mệnh Thổ thì tháng sinh tốt nhất sẽ nằm trong cột Vượng và Tướng, do đó sinh con 2020 vào mùa Hạ (tháng 4, 5, 6) và các tháng tứ quý (3, 6, 9, 12) thì bé sẽ có vận số tốt nhất. Các cột Hưu và Tù chỉ sự suy giảm về vận mệnh nên nếu bạn có kế hoạch sinh con 2020 trong mùa Xuân và mùa Thu (mệnh Thổ) bạn nên chọn ngày giờ sinh tốt cho bé để cải thiện vận khí là tốt nhất.
Người sinh năm 2020 theo Âm lịch là năm Canh Tý, tức là tuổi con Chuột. Tý (Chuột) là con giáp đứng đầu hàng 12 con giáp. Theo quan niệm dân gian thì người tuổi Tý có sức sống bền bỉ, thông minh, lanh lợi và gan dạ. Cuộc đời người tuổi Tý giàu có nhờ biết tích lũy.
Người tuổi Tý lạc quan, vui vẻ, không bị suy sụp cho dù gặp hoàn cảnh khó khăn nào và luôn đấu tranh cho cuộc sống của mình. Đồng thời, họ cũng rất nhạy cảm, có trực giác tốt và có trí tưởng tượng phong phú, nhưng họ không giỏi trong việc đưa ra quyết định một cách logic.
Nhìn bên ngoài, người tuổi Tý có rất nhiều bạn bè do tính cách dễ gần. Đôi khi bạn thấy họ hơi khó tính, hay phàn nàn và soi mói nhưng nhìn chung, họ là những người dễ kết bạn. Người tuổi Tý trân trọng mối quan hệ với bè bạn và họ hàng. Đôi khi, bạn thấy họ quá gắn kết cuộc đời mình với những người khác. Đó là bởi một khi họ đã thích ai đó, họ khó mà có thể rời bỏ người ta. Nhiều bậc cha mẹ đã tính đến việc sinh con năm 2020 Canh Tý để mong muốn con cái mình thông minh, lanh lẹ như một chú chuột vậy.
Theo bảng trên có thể thấy năm 2020 Canh Tý mệnh Thổ – Bích Thượng thổ, tức là Đất tò vò hay Đất trên vách, Đất trên tường thành. Điểm nổi bật trong tính cách của người Bích Thượng Thổ là sự cân bằng, tâm lý và lập trường vững vàng, không dễ bị ngả nghiêng theo dư luận cuộc đời. Ở họ có sự rạch ròi, rõ ràng giữa yêu và ghét – ghét là ghét mà yêu là yêu, không mập mờ trắng đen.
Bích Thượng Thổ luôn bộc lộ là một con người có nghĩa khí, chính trực, đồng thời luôn tuân thủ những quy tắc cũng như những chuẩn mực bản thân đặt ra, nếu phạm phải những điều đó, họ luôn thấy cắn rứt, ân hận. Ngoài ra, dựa theo hình tượng “đất trên tường” – có ý nghĩa bảo vệ che chở cho người khác, do đó, người Bích Thượng Thổ có tính cách rất hay giúp đỡ người khác, sẵn sàng hi sinh, cống hiến mà không nề hà, toan tính. Với tố chất này, họ có thể tiến xa trong tương lai.
Tuy nhiên cũng chính vì vậy mà đôi khi người mệnh Bích Thượng Thổ lại quá cứng nhắc theo khuôn khổ, ít tùy cơ ứng biến trong cuộc sống và công việc, điều đó có thể dẫn đến việc họ trở nên lạc hậu, lỗi thời. Loại đất này mang ý nghĩa mang đến cuộc sống bình yên và an toàn cho con người. Người mang mệnh Bích Thượng thổ được hưởng sự phúc đức, thành công trong cuộc sống và gặp nhiều may mắn./..



Thứ Tư, 25 tháng 9, 2019

"Vinh hoa phú quý đời người rốt cuộc cũng chỉ là một đống rác mà thôi..."




Bác sĩ Kha Văn Triết 

Ngày 29/11/2014, bác sĩ Kha Văn Triết chính thức đắc cử Thị trưởng thành phố Đài Bắc – Đài Loan, vượt đối thủ chính của mình hơn 200 nghìn phiếu bầu. Dù là một thị trưởng đầy quyền lực nhưng ông vẫn thường nói: "Vinh hoa phú quý đời người rốt cuộc cũng chỉ là một đống rác mà thôi".
Trong thời gian còn là bác sĩ ngoại khoa, ông Kha Văn Triết chính là người tạo ra quy trình cấy ghép tạng tiêu chuẩn của Đài Bắc và đưa vào ứng dụng phương pháp cấp cứu Oxy hóa máu bằng màng ngoài cơ thể (ECMO).
“Có lẽ tôi là bác sĩ Đài Loan đã từng nhìn thấy người chết nhiều nhất, vậy nên rất thích hợp để bàn luận về vấn đề sinh tử. Hãy để tôi bắt đầu nói từ "Diệp Khắc Mạc" – Oxy hóa máu bằng màng ngoài cơ thể (ECMO).
Có một người nông dân chạy đến bệnh viện Kì Mỹ Liễu Doanh, nói muốn được gặp bác sĩ Diệp. Người ở phòng cấp cứu nói, không có đâu, chỗ chúng tôi đây không có bác sĩ nào họ Diệp cả. Người nông dân nọ vẫn khẳng định chắc nịch tên bác sĩ ấy là Diệp Khắc Mạc (ECMO).
Diệp Khắc Mạc thật ra không phải là bác sĩ nào cả, nó chỉ là một phương pháp trị liệu. Vận hành của nó cũng rất đơn giản, chính là dẫn máu từ trong tĩnh mạch ra, trải qua một cái bơm huyết dịch (trái tim nhân tạo), rồi lại thông qua một thiết bị tạo ô-xy (buồng phổi nhân tạo), đưa vào cơ thể. Nó được dùng để thay thế chức năng tạm thời của phổi, tim.
ECMO chính là một máy chủ làm trái tim nhân tạo, bên cạnh là một buồng phổi nhân tạo, đưa máu trở về. Xác thực là có những trường hợp vô cùng thành công.
Một vũ công trong nhóm múa của Châu Kiệt Luân, một ngày nọ bị viêm cơ tim đột ngột, tim không còn đập nữa. Lúc đó, con mắt của cô ấy mở to nhìn trừng trừng vào màn ảnh. Tín hiệu trên màn hình toàn bộ đều là một đường thẳng băng cả. Nhưng 9 ngày sau, cô ấy đã tiến hành cấy ghép tim và phổi. Chưa đến 1 tháng, đã có thể trở về tiếp tục nhảy múa rồi. Tất cả là nhờ ECMO.
Trong các tài liệu y khoa, thời gian hồi sức tim phổi dài nhất, còn có thể được cứu sống trở lại chính là trường hợp này. Mỗi lần nhìn lại tôi đều nói đây là thần tích của y học hiện đại. Một người đã trải qua hồi sức tim phổi trong 4 giờ đồng hồ, liên tục 9 ngày tim hoàn toàn không còn hoạt động mà vẫn có thể được cứu sống lại!
Lại có một thanh niên 26 tuổi, uống say rồi đi bơi, bị sặc nước đến viêm phổi nghiêm trọng (gọi là triệu chứng hô hấp cấp tính). Toàn bộ lá phổi của anh đều trắng xoá hết cả, không còn khả năng hô hấp. Anh ta đã điều trị ECMO trong 117 ngày. Trong khoảng thời gian gần 1 tháng, lượng khí thông phổi của anh ta chỉ không đến 100cc. Nhưng rồi cuối cùng anh vẫn dần dần hồi phục trở lại.
Điều này quả thật quá thần kỳ. Vậy nên, dưới sự đồn thổi của giới truyền thông, ECMO ở Đài Loan đã trở nên nổi tiếng như vậy, cũng xác thực là có một vài trường hợp rất thành công. Nhưng các kênh truyền thông chỉ đưa tin về những trường hợp thành công chứ không đả động gì đến những ca thất bại.
Thân là một bác sĩ, chứng kiến những ca thành công đương nhiên rất vui mừng, nhưng cũng không thể quên đi những ca thất bại. Nó thật sự ám ảnh tôi. Từng có một đứa trẻ vừa mới chào đời được nửa tháng đã mắc phải bệnh tim bẩm sinh. Sau khi phẫu thuật tim, sự sống hoàn toàn nhờ vào máy trợ tim phổi, vậy nên đã lắp đặt ECMO. Nhưng không đến 3 ngày sau, chân của bé đã chuyển sang màu đen.
Lúc này, bác sĩ phải đối mặt với một lựa chọn đau lòng, hoặc phải cưa mất hai chân của bé rồi tiếp tục cứu chữa với cơ hội thấp, hoặc là chấm dứt điều trị tránh tổn thất, đau đớn. Đây chính là áp lực rất lớn, khiến bạn vô cùng khó xử, tiến thoái lưỡng nan.
Lại có một cậu bé 7 tuổi, mắc viêm phổi, ung thư máu khuẩn cầu đôi, khiến hô hấp vô cùng khó khăn, lại xuất hiện bệnh biến chứng, tứ chi đều đã chuyển sang màu đen.
Là một bác sĩ, bạn phải đối mặt với sự lựa chọn khủng khiếp này. Nếu muốn cứu bé, thì bạn phải cưa bỏ tứ chi, còn như không cứu, thì cần phải tháo các thiết bị đi. Nhưng đôi mắt long lanh của bé vẫn ngước nhìn bạn, ý thức vẫn còn rõ ràng, biết xin nước uống. Ai nỡ đành lòng chấm dứt cơ hội sinh tồn của sinh linh bé nhỏ ấy đây?
Mọi người hãy thử nghĩ xem, trong thời khắc sinh tử, khi bệnh nhân thần trí vẫn rõ ràng, tôi làm sao nói được với họ rằng: "Cậu bé này, nếu như cậu muốn sống tiếp, chúng tôi cần phải cắt bỏ tứ chi của cậu, hoặc là thôi, cậu không cần sống tiếp nữa". Bạn làm sao có thể nói chuyện sống chết này với một cậu bé 7 tuổi đây?
Ngoài 30 tuổi, tôi được làm chủ nhiệm, cảm thấy y học rất lợi hại, cái gì cũng đều có thể giải quyết. Sau khi tôi hơn 40 tuổi, thường có những ca lắp đặt ECMO thất bại, người nhà bệnh nhân hỏi tôi: "Tại sao người khác thì cứu sống được, còn người nhà chúng tôi lại không thể cứu sống?". Tôi không biết phải trả lời thế nào. Tại sao tứ chi của người bệnh lại chuyển sang màu đen? Nếu tôi biết được thì đã có thể tránh được rồi, nhưng tôi thật sự không hiểu gì cả.
Khi ngoài 50 tuổi, cuối cùng tôi cũng đã nghĩ thông suốt. Bác sĩ là người chứ không phải là Thần, chỉ có thể tận hết sức lực, chỉ vậy mà thôi. Dù cho y học phát triển đến mức nào thì vẫn là có giới hạn. Với khoa học kỹ thuật hiện tại, không có tim, phổi, thận người ta vẫn có thể sống được, nhưng lẽ nào cứ đeo bên mình đống máy móc như vậy mà sống cả đời sao?
Trời đất có Xuân, Hạ, Thu, Đông, cây cỏ mùa Xuân thì đâm chồi, nảy lộc, mùa Hạ thì kết quả, ra hoa, mùa Thu bắt đầu thay vỏ, vàng lá, đến khi Đông về thì trút lá xạc xào, cành khô, thân nứt. Người làm vườn có cách nào thay đổi được loại quy luật ấy hay không? Họ chỉ có thể tận sức chăm sóc vun trồng để những bông hoa kia khi nở rộ trông đẹp đẽ hơn, sống được thời gian dài lâu hơn mà thôi.
Một bác sĩ có cách nào thay đổi được quy luật "Sinh – Lão – Bệnh – Tử" hay không? Điều này thực sự khó vô cùng. Bác sĩ chỉ là khiến cho người bệnh đang ở giữa vòng tuần hoàn "Sinh – Lão – Bệnh – Tử" ấy mà sống được dễ dàng hơn một chút, chỉ vậy mà thôi. Bác sĩ chỉ là người làm vườn trong vườn hoa của sinh mệnh, anh ta liệu có thể làm được gì khi đứng nhìn những cái cây đã khô héo, khi đối mặt với cái chết đây?
Một ngày nọ, trong lúc tôi đi thăm bệnh nhân, tôi đột nhiên hiểu ra đạo lý này. Kết cục của đời người chỉ có hai loại mà thôi: Cắm ống thở hay là không cắm ống thở. Nhưng rồi sau tất cả vẫn đều là cái chết.
Nếu có người hỏi tôi: "Cái chết là gì?". Đáp án của tôi là: "Làm thế nào mới được coi là sống đây?". Bởi vì con người nhất định đều sẽ chết, vậy nên cái chết không phải là mục đích của đời người. Đời người, trái lại chính là một quá trình. Chúng ta trong quá trình này không ngừng theo đuổi một điều gì đó, đây chính là đời người. Và tôi nói: "Tất cả những thứ người ta theo đuổi, vinh hoa phú quý của đời người chẳng qua chỉ là một đống rác bỏ đi".
Có một lần, tôi mời thầy giáo đã nghỉ hưu của mình và lớp trưởng cùng đi dùng cơm. Ba người chúng tôi lên lầu hai của một nhà hàng Pháp, kết quả đã tiêu hết 26.000 Đài tệ (gần 20 triệu đồng), bình quân mỗi người là 9.000 Đài tệ (6,7 triệu đồng). Khi nhìn thấy hóa đơn, mặt mày tôi tái mét: "Sao lại đắt đến vậy chứ!". Tôi chưa từng đến dùng bữa ở nơi nào đắt đỏ như vậy cả, chỉ là chọn đại mấy món, cũng không hiểu đã dùng món gì mà mất đến 26.000 Đài tệ.
Cả ngày hôm ấy và hôm sau, tôi đã không ngừng suy nghĩ về chuyện này. Bữa cơm đã tiêu tốn của tôi mất 9.000 Đài tệ, so với một suất cơm bình dân ở bệnh viện ngày thường tôi vẫn ăn thật chẳng khác nhau chút nào. Dù là cao lương mỹ vị, dù là gan rồng, tuỷ phượng, ăn vào dạ dày rồi lại phải bài tiết ra ngoài. Vinh hoa, phú quý của đời người cũng thế, tranh đoạt cả đời, gom góp một kiếp, chết rồi lại chẳng thể mang theo.
Tư tưởng Nho gia ảnh hưởng rất mạnh mẽ ở Á Đông nhưng đối với vấn đề sự sống – cái chết, họ cũng chỉ bàn đến một mức độ rất bề mặt. "Luận Ngữ" viết: "Vị tri sinh, yên tri tử" (chưa biết đạo lý của đời sống, sao lại thắc mắc về cái chết); hoặc như Khổng Tử cũng nói: "Triêu văn Đạo, tịch khả tử" (sáng nghe đạo, chiều chết cũng yên lòng). Nói tóm lại chính là không thích luận đàm về sống chết.
Còn cá nhân tôi thì luôn nghĩ về cái gọi là "trải nghiệm cận tử". Chỉ khi đối diện với cái chết, khi đứng trên ranh giới giữa sự sống và cái chết, người ta mới lại nhìn thấu được đời người là gì, ý nghĩa nhân sinh đích thực là gì?
Con người cuối cùng rồi sẽ phải chết, đời người chẳng qua chỉ là một quá trình theo đuổi và tìm kiếm ý nghĩa của nhân sinh. Mà ý nghĩa nhân sinh đó đôi khi không thể dễ mà nhìn ra. Trên con đường trở về với giá trị gốc của mình, người ta sẽ phải đi qua biết bao thống khổ, bơi qua một bể khổ vô bờ. Nghĩ lại thì kiếp sống này thật quá ư mông lung, nhân sinh này chính xác chỉ là giấc mộng.
Tôi xin dùng câu nói dưới đây làm lời kết cho bài thuyết trình hôm nay: "Điều khó khăn nhất không phải là đối mặt với thất bại và sự đả kích, mà là khi phải hứng chịu những sự đả kích, dày vò, ta không hề đánh mất đi nhiệt tình đối với cuộc đời này".
(Nguồn: Internet)

“Trên đầu ba thước có thần linh”

Từ xưa đến nay, nhiều người vẫn hay nhắc nhở với nhau rằng: “Trên đầu ba thước có thần linh”. Người đang làm, Trời đang nhìn. Từng ý niệm, từng hành vi của mỗi người đều có Thần linh giám sát, ai ai cũng phải chịu trách nhiệm về cử chỉ và lời nói của bản thân mình. Chỉ có hành thiện, tích đức, không làm việc xấu ác thì mới có thể tránh khỏi kết cục thảm khốc trong tương lai.

Thứ Ba, 27 tháng 8, 2019

Dục giới



Dục giới gồm có 11 cõi : 4 cõi khổ và 7 cõi thiện dục giới như sau:
1. Ðịa Ngục (Niraya): Cõi này chỉ có mọi sự thống khổ chứ không có sự an vui, nơi mà các chúng sinh Tự Trừng Phạt do các Ác Nghiệp đã tạo. Cõi khổ có tuổi thọ không nhất định.

2. Ngạ Quỹ (Pettivisaya): Chúng không phải là ma quỹ vô hình, chúng có sắc thân nhưng mắt người không thể thấy được. Chúng không có cảnh giới riêng và luôn luôn bị đói khát. Chúng sống ở nhiều nơi khác nhau, nhà dân, rừng núi, hang động hay các chỗ nhớp nhúa. . . Cõi khổ có tuổi thọ không nhất định.

3. Súc Sanh (Tiricchānayoni): Các sinh vật đi ngang, bò đi, không đi thẳng như người, còn gọi là Bàng sanh, gần như là tất cả sinh vật bình thường trừ con người. Cõi khổ có tuổi thọ không nhất định.

4. A-Tu-La (Asurakāya): Asura nghĩa là những vị không có hoan lạc hay không chói sáng. Những chúng sanh này rất hung dữ, hay gây gổ. Loại A-Tu-La sanh ở đây không giống với loại A-Tu-La chư thiên chuyên gây chiến với chư thiên và sống ở cõi Tam Thập Tam Thiên. Cõi khổ có tuổi thọ không nhất định.

5. Cõi người (Manussa): những người có tâm cao thượng, do đó phải hiểu rằng được làm người là rất khó, tất cả mọi đứa trẻ bình thường được sinh ra đều là những thiên thần, chính cuộc sống và những người xung quanh biến chúng thành quái dị, con người là cái gì đó rất thiêng liêng và cao quý.

6. Tứ Thiên Vương (Cātummahārājika): đây là cõi thấp nhất trong các cõi chư thiên. Tuổi thọ 9.000.000 tuổi người. Dưới nó còn có các chư thần thấp hơn như sơn thần, thổ địa, thánh mẫu . . . (thường 1 ngày của họ bằng 1 tháng, 1 năm hoặc hơn tùy theo tầng cao hay thấp)

7. Tam Thập Tam Thiên (Tāvatimsa): Ðế Thích (Magha) cư ngụ ở đây. Sở dĩ gọi như vậy vì theo tích truyện có 33 vị dưới sự hướng dẩn của Ðế Thích đã làm những việc thiện và được tục sinh tại đây. Tuổi thọ 36.000.000 tuổi người.

8. Dạ Ma Thiên (Yāma): Yam nghĩa là tàn phá, diệt trừ. Nơi đây mọi đau khổ đều được trừ diệt. Tuổi thọ 144.000.000 tuổi người.

9. Ðâu Suất Ðà Thiên (Tusita): những vị sống sung sướng. Theo tục truyền, vị Bồ Tác tương lai (Di Lặc) đang sống tại đây và chờ cơ hội thuận tiện để tái sinh làm người và thành Phật. Tuổi thọ 576.000.000 tuổi người.

10. Hóa Lạc Thiên (Nimmānarati): những vị sống hoan lạc trong những lâu đài tự tạo ra. Tuổi thọ 2.304.000.000 tuổi người.

11. Tha Hóa Tự Tại Thiên (Paranimmitavasavatti): những vị đem dưới quyền của mình các vật do các vị khác đã hóa hiện. Tuổi thọ 9.216.000.000 tuổi người.