Thứ Tư, 3 tháng 10, 2018

Hãy thôi nhận vơ cuộc chơi ngông của anh Vượng Vin là "niềm tự hào Việt Nam"!



Vụ ô tô Vinfast tôi đã nói nhiều lần về bản chất của dự án này. Cá nhân tôi ko rõ anh Vượng định làm gì khi 1 lúc anh tham gia vào 2 thị trường kinh doanh khủng khiếp nhất thế giới là Điện thoại di động và ô tô.
Tôi nói luôn, quan điểm của tôi đó là anh Vượng rất giỏi trong việc thâu tóm đất đai, xây lô, bán nền xây chung cư nhờ tài đi đêm của mình. Trong lĩnh vực BDS VN anh là số 1 bởi đơn giản anh độc quyền. Còn điện thoại hay ô tô là 1 câu chuyện hoàn toàn khác. Tôi có 1 niềm tin mạnh mẽ rằng: "Thế giới họ ko làm được, thì VN 1 đất nước zero về công nghệ và khoa học cũng ko bao giờ làm được".
Thị trường ô tô hay Điện thoại di động giờ đây đã trở nên quá bão hoà và là sự độc chiếm của những ông lớn trên thế giới chia miếng bánh với nhau. Trong lĩnh vực ô tô từ phân khúc thấp cấp, trung cấp, cao cấp đều đã có sự xuất hiện của Toyota, Huyndai, hay BMW và Mer; điện thoại di động thì Xiaomi, Huawei rồi SamSung, Apple.
Giầu có, vĩ đại như Microsoft ti toe nhảy vào làm điện thoại chết sặc máu. 1 anh đại cỡ lớn như Sony cũng vừa tuyên bố ko làm điện thoại nữa (vì ko cạnh tranh lại nổi TQ với HQ). Vậy anh Vượng nghĩ mình nhiều tiền hơn Microsoft và VN có trình độ công nghệ cao hơn Mỹ????
Ngành ô tô còn khủng khiếp hơn, GM là công ty ô tô trong lịch sử đã từng đứng hạng top thế giới của Mỹ; nhưng giờ đây do ko chịu cải tiến đã ko thể cạnh tranh nổi với ô tô của Nhật hay Hàn Quốc. Hậu quả chính phủ Mỹ tung hàng chục tỷ USD ra để cứu nhưng đến giờ vẫn ko ăn thua, GM vẫn sống ngắc ngoải trông chờ bầu sữa của chính phủ.
Malaysia cách đây mấy chục năm tự hào tuyên bố về thương hiệu ô tô Proton với tỉ lệ nội địa hoá gần 70% (tức Made in Malaysia tới 70%) mà giờ đây chính phủ đang mỗi năm bỏ tới 3,4 tỉ USD để nuôi báo cô. Nên nhớ nền công nghiệp Malaysia phát triển gấp tỉ lần VN thì họ mới có khả năng tự nội địa hoá sản phẩm của mình tới tỉ lệ 70%. Ko phải như cái xe của anh Vượng đặt hàng nguyên con của nước ngoài rồi gắn cái mác của mình vào rồi hô hào tự hào Việt Nam.
Nếu sản xuất ô tô chỉ là đi đặt hàng, rồi mua công nghệ thì quá đơn giản chắc ô tô TQ bá chủ thế giới từ lâu rồi (vì ai nhiều tiền bằng TQ??? ). Nhưng vấn đề đơn giản ko chỉ là mua công nghệ, bởi nếu chỉ đặt hàng mua công nghệ thì họ chỉ bán cho anh cái sp đã hoàn thiện, chứ đâu có bán cho anh cách sản xuất cái công nghệ đó? Giống như bạn bỏ tiền mua phần mềm Windows, chứ có mua được mã nguồn của Windows để viết ra 1 cái Windows mới đâu?
Nhà sản xuất tư bản nước ngoài nó ko ngu để bán công nghệ cho người khác (nếu có bán, chỉ là bán những công nghệ lỗi thời lạc hậu mà thôi). Dĩ nhiên, khi đã ko tự sản xuất được mà phải nhập ngoại thì giá thành sản phẩm sẽ bị đẩy cao lên --> đắt hơn giá trị thật và ko có tính cạnh tranh. Bởi thế, muốn phát triển ô tô các nước như Nhật, Hàn, TQ đều phải phát triển từ cái gốc đi lên ấy là từ công nghệ luyện kim, cơ khí để tạo ra được khung, gầm, ô tô đạt tiêu chuẩn chất lượng. Sau đó dần dần mới tiến đến những thứ xa hơn như thiết kế và chế tạo động cơ.
Chả có quốc gia nào ko làm nổi cái xe đạp lại có khả năng chế tạo ra cái ô tô cả? Mọi người liệu có biết rằng trước khi trở thành cường quốc ô tô của thế giới thì Hàn với Nhật Bản là cường quốc luyện kim, chế tạo máy của thế giới ko? Có biết rằng trước khi thành công với ô tô họ đã trải qua 1 thời gian dài làm những vật dụng gia đình như ti vi, máy lạnh, tủ giặt (để có kinh nghiệm và trình độ về công nghiệp chế tạo máy).
Không những chỉ là chế tạo và nội địa hoá mà muốn thành công thì anh phải tối ưu dây chuyền sản xuất của mình làm sao để tạo ra sản phẩm mà giá thành lại phải rẻ hơn hẳn các hãng khác. Đây chính là lí do vì sao mà nhiều nước có nền công nghiệp nặng trình độ cao như Nga mà ngành công nghiệp ô tô của họ chết ngỏm củ tỏi. Người Nga thừa sức tạo ra những miếng thép, cái ốc vít, động cơ để lắp vào phi thuyền, phóng lên trên vũ trụ khiến cả thế giới ngưỡng mộ. Nhưng do ko có kinh nghiệm tối ưu hoá cho nên sản phẩm họ làm ra ko có tính kinh tế để cạnh tranh với xe Nhật, Hàn.
Anh Vượng nếu tuyên bố mở nhà máy chế tạo luyện kim, gang thép chất lượng cao để cung cấp phụ kiện ô tô đạt chuẩn quốc tế cho Toyota hay BMW thì tôi tin. Chứ anh chém gió bảo sản xuất ô tô để cạnh tranh ngang hàng với Toyota hay BMW thì ko bao giờ. Bởi nên nhớ để duy trì được 1 dây chuyền sx ô tô hoạt động có lãi thì mỗi năm dây chuyền đó phải sx ra khoảng 300.000 chiếc ô tô. Nếu sx thấp hơn con số này thì càng hoạt động càng duy trì sẽ càng lỗ? Anh Vượng liệu có đủ khả năng đa đít Toyota ra khỏi thị trường VN để đạt dc con số này ko? Anh Vượng nhiều tiền thì cũng chỉ 4,5 tỉ USD nhất Việt Nam này thôi, chứ so với thế giới là cái deck gì?, liệu anh đủ tiền duy trì bù lỗ như chính phủ Mỹ bơm cho GM ko?
Tất nhiên, cái mà tôi lo lắng ko phải việc anh Vượng có thành công với cái ô tô của mình hay ko? Mà vấn đề ở đây đó là có nhiều kẻ bơm thổi cái ô tô đồ chơi của anh Vượng trở thành thương hiệu quốc gia, rồi khi nó làm ăn thua lỗ (như các quốc gia khác) lúc đó chính phủ sẽ phải bỏ tiền thuế của dân ra để duy trì và nuôi báo cô. Nên nhớ Vinashin diễn ra gần chục năm mới mất 4 tỉ USD, còn mỗi năm để duy trì 1 cái "thương hiệu quốc gia" như của anh Vượng là 3-4 tỉ USD đó. Các bạn hô tự hào Việt Nam lúc đó liệu xem có sẵn sàng bỏ tiền túi của mình ra để nuôi cái của nợ đó ko?

(Nguồn: Fb Hoang Nguyen)

Thứ Hai, 17 tháng 9, 2018

Nghịch lý ở Việt Nam: Một quốc gia nhỏ chỉ ăn rồi chơi



Có lẽ không quốc gia nào mà cuộc sống của giới công chức chứa nhiều điều nghịch lý như ở Việt Nam. Lương không đủ sống nhưng lại thuộc thành phần khá giả của xã hội; đã vào biên chế là có thể nằm lỳ cho đến hết đời, ngang nhiên đòi hỏi mọi chế độ phúc lợi, ngay cả khi chẳng làm gì; là người làm thuê cho dân nhưng lại hành xử như ông chủ có quyền ban ơn; năng lực cũng như tinh thần trách nhiệm trước công việc phần lớn ở mức trung bình và thấp, nhưng cực kỳ có khả năng trong việc kinh doanh “quyền lực Nhà nước” để tư lợi …Nhưng điều nghịch lý nhất là một nền hành chính cồng kềnh, ì ạch, dôi dư cả triệu người như vậy lại vẫn cứ ngày một phình to?

Trong một hội nghị có đưa tin trên truyền hình và sau đó hầu như các báo đều đưa lại, Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc (giờ là Thủ tướng) nói thẳng ra rằng: “Trong bộ máy chúng ta có tới 30% số công chức không có cũng được, bởi họ làm việc theo kiểu sáng cắp ô đi, tối cắp về, không mang lại bất cứ thứ hiệu quả công việc nào”. Nói cách khác, cái số 30 % công chức đó hoàn toàn không cần thiết, y như cái bướu trên cổ. Với 2,8 triệu công chức, chỉ cần làm phép tình nhẩm cũng ra ngay con số thuộc diện có cũng như không kia khoảng 800.000. Nghĩa là mỗi 100 người dân Việt Nam, phải nuôi không một ông (bà) vô công rồi nghề mang danh công chức! Vậy tại sao một nền dịch vụ công chỉ cần 2 triệu người, mà phải trả lương cho tận những gần ba triệu? Ai phải chịu trách nhiệm về vấn đề này? Trong khi chưa thể tìm ra câu trả lời, chúng tôi chỉ xin làm thứ công việc đơn giản hơn là giúp mọi người hình dung một phần cái gánh nặng vật chất và tinh thần mà cả xã hội đang phải è lưng chịu đựng để “cõng” gần một triệu công chức dư thừa đó.

Trước hết, 800 ngàn người lớn đến mức nào? Đó là số dân (hơn kém chút ít) của Cyprus, Bahrain, Bhutan, Qatar, Đông Timor…Hay nó có quy mô gấp đôi dân số Luxemburg, Brunei, Malta, Iceland…

Thứ hai, và đây là vấn đề chính, cần bao nhiêu tiền để nuôi cái đám công chức thừa thãi ấy? Chắc chắn là không ai có thể tính chính xác, vì có những công chức thuộc loại dư thừa, nhưng lại hưởng mức thu nhập nhiều người mơ ước. Hẵng chỉ tính đơn giản thế này: Mỗi người trong số đó, vì họ là công chức, nên thuộc diện thu nhập trung bình khá (so với mức 1000 USD trung bình) sẽ nhận của Nhà nước khoảng 60 triệu đồng (3000 USD) một năm. Nghĩa là cần số tiền lên tới 50.000 tỷ đồng ( 2,5 tỉ USD) cho việc chi lương để ngày ngày 800.000 người ăn mặc sang trọng chỉ để “sáng vác ô đến cơ quan, tối vác ô về nhà” mà không làm bất cứ việc gì. Tuy nhiên, số tiền phải bỏ ra phục vụ việc ngồi chơi xơi nước của “một quốc gia nhỏ” ấy trên thực tế còn lớn hơn nhiều.

Theo thông lệ thì số tiền lương cho công chức chỉ bằng hai phần ba số tiền phải chi ra để họ có thể làm việc, được tính vào khoản duy trì hoạt động của cơ quan Nhà nước. Đó là tiền thuê nhà, tiền điện, tiền điện thoại, tiền khấu hao tài sản, tiền phúc lợi, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, chi phí đi lại và cơ man nào những thứ tiền khác được gọi bằng cái tên chung là văn phòng phí. Khiêm tốn tính gộp thì con số 50.000 tỉ đó phải cộng thêm khoảng 20.000 tỉ đồng. Giờ ta thử xem 70.000 tỷ đồng nhiều đến mức nào? Nó nhiều hơn toàn bộ số tiền thu được từ xuất khẩu gạo năm 2012; nó bằng khoảng 5 lần số tiền phí bảo trì đường bộ mà Bộ GTVT dự kiến thu được hằng năm từ ô tô, xe máy với giả phải trả là hứng chịu biết bao lời chì chiết của dư luận; nó bằng già nửa số tiền 120.000 tỉ đồng cần để nâng cấp quốc lộ 1A lên thành đường bốn làn xe ô tô; nó giúp cho khoảng 7 triệu dân miền núi đủ gạo ăn trong một năm để không phá rừng. Nếu có ngần ấy số tiền, toàn bộ các xã nghèo miền núi có trường học, có chợ, có đường trải bê tông. Nó có thể mua được số bò giúp cho Chương trình Lục lạc vàng duy trì liên tục 1500 buổi, với khoảng 9000 gia đình nông dân thuộc dạng nghèo nhất nước có cơ hội đủ cơm ăn. Nó là con số dài tới mức mà không một nông dân bình thường nào đọc chính xác được.

Nhưng đấy mới chỉ tính về khoản vật chất, cho dù không hề nhỏ nhưng chưa chắc đã là lớn nhất. Tai hoạ của nạn biên chế tràn lan là nó khiến cho bộ máy hành chính công của chúng ta thuộc loại công kềnh, kém hiệu quả và lạc hậu vào loại nhất khu vực. Nhàn cư vi bất thiện. Vì không làm gì nên những ông, bà công chức thừa thãi trên trở thành những “con bệnh” của xã hội. Ta hãy xem họ làm gì mỗi ngày để tiêu hết 8 giờ vàng ngọc? Nếu là đàn ông thì phần lớn lướt web, chơi game oline, xem phim sex, tìm cách vào nhà nghỉ với chính đồng nghiệp của mình. Thời gian còn lại ngồi nghĩ mưu kế tư lợi hoặc hại người khác. Còn với thành phần nữ giới thì shoping tối ngày, ăn uống, khoe của tối ngày, buôn dưa lê tối ngày...

Nhiều người coi trụ sở cơ quan chẳng hơn gì cái bếp nhà mình, tranh thủ tận dụng điện nước miễn phí để nấu nướng. Số còn lại, nếu không làm những việc như trên, thì làm chim bói cá, cứ thấy ở đâu có mầu mỡ là đến. Cũng vì thừa dẫn đến lười, ích kỷ, đấu đá chèn ép nhau thay vì thực thi công vụ. Có rất nhiều người cả một đời công chức chỉ chuyên kiện cáo, lao vào đấu đá vì những lợi ích cá nhân. Nhưng lương của họ thì vẫn cứ đến hẹn lại lên. Chức của họ thì cứ đến tuổi là đến. Kèm với lương với chức là đủ thứ tiêu chuẩn ưu đãi khác. Những công bộc này, về nguyên tắc là những người giúp việc cho “ông chủ” Nhân dân, nhưng trên thực tế cũng là những người quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu, tham lam, làm khổ “ông chủ” vào loại nhất thế giới. Làm bất cứ việc gì thuộc phạm vi chức phận cũng đòi lót tay. Trong bất cứ nhiệm vụ nào cũng lồng lợi ích của mình vào. Từ lái xe, nhân viên đóng dấu, nhân viên gác cổng…đến những người có tí chức, tí quyền đều là những kẻ chỉ thạo ăn tiền, vòi vĩnh, hạch sách…biến cửa Công đường thành nơi nhếch nhác, bất tín, đáng sợ hơn cả hang hùm. Nền đạo đức xã hội xuống cấp, có phần đóng góp không nhỏ của những thành phần được gọi là công chức ấy.

Nhưng thiệt hại vẫn chưa dừng lại ở đó. Nạn chạy chức chạy quyền thì ai cũng biết. Nhưng nạn chạy chọt để được thành công chức Nhà nước còn khốc liệt hơn và cũng bi hài hơn rất nhiều. Vì số người tham gia luôn rất đông, diễn ra trên một diện rộng, với sự tham gia của mọi thành phần. Nó làm hư hỏng cả người có quyền nhận và người được nhận. Người có quyền nhận thì một khi đã lấy tiền, đã nhúng chàm, làm sao còn dám yêu cầu cấp dưới phải nêu cao đạo đức, kỷ cương, nhân cách-ngoại trừ đó là một truyện hài! Người được nhận vào làm công chức thì cậy tiền nên không cần học, không cần trau dồi chuyên môn, coi thường kỉ cương, phép tắc. Đó là chưa kể họ phải tìm cách ăn chặn, ăn bẩn, vơ vét bằng mọi cách để bù lại số vốn đã bỏ ra.

Nhưng những bệnh tật trên, dù rất trầm trọng, nếu quyết tâm ngăn ngừa, vẫn còn nhiều hy vọng chữa chạy, dù rất tốn kém. Song có một thứ bệnh do nạn chạy công chức gây ra rất khó chữa, thuộc loại nan y, là bệnh ỷ lại, lười biếng và mất khả năng tự trọng. Căn bệnh thuộc loại lây nhiễm này có thể huỷ hoại nhân cách cả một thế hệ, góp phần làm nghèo đất nước. Người ta cần một cái bằng đại học với bất cứ giá nào đôi khi không phải để sau đó làm việc, cống hiến, mà để có cơ hội gia nhập cái đội quân công chức vốn là thừa thãi kia. Với những người này, cái điều đáng lẽ thành nỗi xấu hổ khi chả làm gì ngoài việc “sáng vác ô đi, tối vác ô về”, thì lại là mục tiêu phấn đấu, là sự nghiệp của đời họ. Liệu có khác gì một thứ quốc nạn?

(Nguồn: Lão Tạ)

Chủ Nhật, 12 tháng 8, 2018

Ba vấn đề lớn từ một chiếc thẻ lên tàu… rất nhỏ



Cách đây mấy ngày, tôi nhìn thấy trên FB của thầy giáo tôi, thầy Nguyễn Tích Lăng, những tấm biển chỉ dẫn các nhà ga của tuyến đường sắt trên cao Hà Đông – Cát Linh. Tôi sững sờ. Trên các tấm biển chỉ dẫn đó ghi 2 thứ tiếng: Trung và Việt. Tiếng Trung ở trên và tiếng Việt ở dưới.
Tôi mò vào tìm đọc thông tin này thấy một tờ báo online chính thống nói thông tin từ Ban quản lý (phía Việt Nam) giải thích đó là lỗi của nhà thầu (phía Trung Quốc) chứ không phải của Ban quản lý và lý do họ đề tiếng Trung Quốc vì để cho các chuyên gia Trung Quốc đang giúp vận hành thử tàu. Tờ báo cũng nói những biển chỉ dẫn đã được tháo bỏ. Vì thế tôi không định bàn về việc đó nữa.
Nhưng tối qua tôi thấy trên một số FB đưa chiếc “thẻ lên tàu” cũng in 2 thứ tiếng Trung và Viêt. Và tiếng Trung vẫn in trên phần tiếng Việt. Đến lúc này, câu chuyện ngôn ngữ đã cho thấy ba vấn đề quan trọng.
VẤN ĐỀ THỨ NHẤT: Đó là nguyên tắc sử dụng song ngữ trong các văn bản, biển hiệu, tên các công trình, các khu du lịch, địa điểm văn hóa… Khi sử dụng song ngữ hay nhiều ngữ trong một văn bản thì tiếng của nước sở tại (ở đây là Việt Nam) phải được đưa lên đầu tiên. Đấy là văn hóa, là chủ quyền quốc gia. Mọi sự là khác đi là vô tình (có thể hữu ý) xúc phạm đến chủ quyền của nước sở tại cho dù chỉ là vấn đề ngôn ngữ. Sau này khi nhà ga chính thức họat động thì hai thứ tiếng được sử dụng đầu tiên là Việt và Anh. Nếu thêm các tiếng khác thì phải tính đến các nhu cầu cần thiết và hợp lý của ngôn ngữ đó cho sinh hoạt và kinh doanh.
VẤN ĐỀ THỨ HAI: Đường sắt trên cao Hà Đông – Cát Linh được làm bằng tiền vay của Trung Quốc và do nhà thầu Trung Quốc thi công. Nhưng Việt Nam vay tiền thì Việt Nam phải trả nợ. Có những món nợ bằng tiền mà người ta đôi khi phải trả bằng cả vận mệnh của cả quốc gia. Và nhà thầu Trung Quốc chỉ là một người làm thuê không hơn không kém cho dù bởi bất cứ lý do nào. Vì thế, Trung Quốc không được quyền quyết định tùy tiện các văn bản đang sử dụng trong lãnh thổ Việt Nam nếu không được luật pháp của Việt Nam cho phép. Đặc biệt đơn vị quản lý dự án này phải hiểu và yêu cầu nhà thầu (người làm thuê) chấp hành các qui định của nước sở tại.
Câu chuyện về biển chỉ dẫn các nhà ga và chiếc thẻ lên tàu diễn ra cách nhau có mấy ngày. Như vậy không hề có sự “rút kinh nghiệm” của Ban quản lý và nhà thầu. Chính điều đó làm cho người dân thấy một điều gì đó không bình thường ẩn sau những biển chỉ dẫn nhỏ và cái thẻ lên tàu còn nhỏ hơn.
VẤN ĐỀ THỨ BA: Cho dù tuyến đường sắt trên cao đang trong thời gian vận hành thử và tiền xây dựng tuyến đường này là vay của Trung Quốc thì các nguyên tắc, qui định… vẫn phải được chấp hành nghiêm túc như treo một cái biển nhà ga. Nếu không thì với một ít tiền thôi chúng ta sẽ có nguy cơ đánh mất lòng tự trọng hay nói rộng hơn là đánh mất chủ quyền của một quốc gia trong một việc làm tưởng như nhỏ nhặt.
Vấn đề Trung Quốc từng bước lấn chiếm chủ quyền một số biển đảo của chúng ta lâu nay không cho phép người Việt Nam nhìn nhận mọi hành vi của Trung Quốc với con mắt bình thường được nữa. Người Việt có câu “một sự bất tín, vạn sự bất tin”. Trong khi đó, chính quyền Trung Quốc từ thời phong kiến đến nay đã có hàng ngàn sự bất tín với Việt Nam. Việc lấy lại lòng tin của người dân Việt Nam đối với Trung Quốc quả là một thách thức giống như tát cạn biển đông vậy.
LỜI CUỐI: Việc vận hành thử, cho dù do các chuyên gia Trung Quốc tiến hành nhưng họ đang thực hiện việc đó trên lãnh thổ Việt Nam, có sự tham gia của các chuyên gia GTVT Việt Nam và dưới sự giám sát của Ban quản lý. Vậy mà khi các biển chỉ dẫn của hầu hết các nhà ga từ Hà Đông đến Cát Linh được treo lên mà Ban quản lý không hay biết cho đến khi báo chí có ý kiến.
Rồi tiếp đến các “thẻ lên tàu” lại tiếp tục sử dụng ngôn ngữ như các biển chỉ dẫn nhà ga. Tuyến đường sắt trên cao là quá xấu, quá đắt, thi công quá chậm như báo chí và dư luận công chúng đã từng lên tiếng. Một tuyến đường xấu có thể đập đi làm lại, nhưng khi lòng tự trọng dân tộc, chủ quyền của dân tộc bị đánh mất thì hàng trăm năm chưa chắc đã giành lại được.
(Nguồn: FB Nguyễn Quang Thiều)

Thứ Ba, 7 tháng 8, 2018

Sẽ ra sao nếu ta phải làm việc đến 100 tuổi?



Ở tuổi 106, Bill Frankland có lẽ là bác sĩ hoạt động lâu năm nhất trên hành tinh, và ông không có dấu hiệu chậm lại.
Việc nghỉ hưu ngày càng trở nên tốn tiền, và các thế hệ tương lai có thể phải bỏ hẳn ý nghĩ đó. Chúng ta sẽ làm được những việc gì khi già? Liệu ta còn đủ sức không? và có ai thuê ta không?
"Từ 100 đến 105 tuổi tôi đã xuất bản 4 bài báo," người đàn ông ngồi trước mặt tôi nói. Nay đã 106, Bill Frankland có lẽ là bác sĩ hoạt động lâu năm nhất trên hành tinh này. Mặc dù tôi đang gặp ông vào sáng thứ bảy, ông vẫn ở tại văn phòng của mình ở London, ăn mặc chỉnh tề, xung quanh ông toàn là các báo có tình học thuật.
Frankland được đào tạo làm bác sỹ vào năm 1930. Trong suốt sự nghiệp lâu dài và lừng lẫy của mình, ông đã trở thành người lão luyện nhất về dị ứng. Ông đã làm việc cùng với Alexander Fleming (được giải Nobel vì tìm ra thuốc kháng sinh) và có lần được mời tới Iraq để chăm sóc Saddam Hussein.
Mặc dù quy chế thời đó ông phải nghỉ hưu ở tuổi 65, do không muốn từ bỏ công việc ông đã làm việc tự nguyện từ đó. "Làm thế nào khác được?" ông giải thích. Dự án mới nhất của ông sắp ra mắt. "Tôi nghĩ 'tôi phải viết một bài báo nữa khi tôi 106 tuổi'. Và thực tế ông đang viết. Tôi đã hoàn thành nó được ít nhiều."
Khỏi phải nói, thái độ của Frankland là bất thường. Hầu hết mọi người đều tưởng tượng những năm cuối đời là một kỳ nghỉ kéo dài- một cơ hội để thay bàn làm việc bằng ghế bành và bắt đầu ngủ buổi chiều. Nhưng trong tương lai sẽ có thể không phải như thế nữa.
Có một sự chênh lệch đáng kể giữa khoản tiền phần lớn người tiết kiệm được cho việc về hưu so với khoản tiền mà họ sẽ cần đến. Chênh lệch này ngày càng lớn lên. Theo một báo cáo gần đây của Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới (WEF), người dân sống ở một số nền kinh tế lớn nhất thế giới- Mỹ, Anh, Nhật Bản, Hà Lan, Canada, Úc, Trung Quốc và Ấn Độ- tất cả các nước này phải đối mặt với khoản thiếu hụt tiết kiệm là 428 nghìn tỷ đô la vào năm 2050.
Trong khi đó, dân số toàn cầu già đi hơn bao giờ hết. Tính đến 2015 có khoảng 451.000 người đang sống quá trăm tuổi, và con số này sẽ gấp 8 lần trong 3 thập kỷ tới. Ở Hoa Kỳ, họ là nhóm tuổi phát triển nhanh nhất. Ở Anh, hiện nay có nhiều đến mức Nữ Hoàng phải thuê thêm người để gửi thiếp mừng cho họ. Thực tế, phần lớn trẻ em sinh ra ở các nước giàu có ngày nay sẽ có dịp kỷ niệm ngày sinh thứ 100.
Đây là một phần của vấn đề. Ngay cả trong những năm 1960, ở Mỹ, hơn hai thập kỷ sau khi lương hưu của nhà nước được áp dụng lần đầu, thì người ta thường chỉ có thể hưởng lương hưu khoảng 5 năm- vì tuổi nghỉ hưu là 65 và tuổi thọ trung bình là 70.
Nhưng với những người sống trăm tuổi, việc nghỉ hưu có thể dài hơn bảy lần thế. Và với các công ty có lương hưu cao thì những người hy vọng duy trì mức lương hưu hàng năm là 44.564 đô la- là mức trung bình quốc gia của Hoa Kỳ- sẽ phải tiết kiệm khoảng một triệu đô la.
Thay vào đó, một số lượng đáng kể những con người kỳ diệu tự nhiên này có thể phải làm việc. Họ sẽ làm công việc gì? Họ có đủ khỏe không? Và có ai muốn thuê họ không?
Câu trả lời cho câu hỏi đầu tiên có thể làm bạn ngạc nhiên. Trên khắp thế giới, từ California đến Ba Lan, đến Ấn Độ, những người sống trăm tuổi đã làm việc rất tích cực. Và không có việc gì họ không làm. Quá nhiều để kê khai, nhưng nó có thể gồm nghề cắt tóc, chẳng hạn như Anthony Mancinelli, đã cắt tóc 95 năm (từ năm 1923, khi ông 12 tuổi); vận động viên, như Stanislaw Kowalski, người đã phá kỷ lục thế giới chạy 100 mét khi 104 tuổi; và các ngôi sao YouTube, cụ thể là Mastanamma, một bà cố 107 tuổi, dạy cho một triệu người cách nấu ăn, như trứng đà điểu chiên.
Thực tế, những người già thường muốn làm việc. Peter Knight, một doanh nhân có trụ sở tại Vương quốc Anh, kể rằng ông đã thành lập công ty tuyển dụng Forties People khoảng 4 năm trước. Công ty chuyên thuê các ứng viên đã lớn tuổi. "Không có tuổi giới hạn trên. Trước đây, chúng tôi đã có một khách hàng 82 tuổi và nhân viên của ông, người già nhất là 94 tuổi," ông nói.
Ông già 94 tuổi này đã nghỉ hưu ba lần từ cùng một công ty trông coi hồ sơ của Thủy Quân Lục Chiến Hoàng Gia- và mỗi lần về hưu ông tiếp tục quay trở lại văn phòng thăm bạn bè. Ông bắt đầu giúp bạn và từ việc này sang việc khác, cho đến khi họ quyết định sẽ trả cho ông một số tiền biểu tượng để ông có thể đến và đi tùy thích. "Khi đó ông là một phần của đồ nội thất cơ quan."
Tất nhiên, một số công việc là quá tốt không muốn từ bỏ. Người dẫn chương trình truyền hình Anh 92 tuổi Sir David Attenborough, làm chương trình truyền hình về động vật hoang dã cho BBC, tin tưởng rằng ông sẽ làm việc đến 100 tuổi- và ông nói nhiều lần là không có kế hoạch nghỉ hưu. Ai muốn về hưu khi công việc là lén đến gần con lười ươi, bắt chước tiếng gọi của sói, và chơi với khỉ đột con?
"Ở Anh chúng tôi không có tuổi nghỉ hưu bắt buộc nữa, nhưng nếu bạn trong ngành giáo dục đại học thì bạn sẽ tiếp tục giảng đến trên 70 tuổi," Jane Falkingham, một nhà lão khoa và giám đốc Trung Tâm Thay Đổi Dân Số tại Đại học Southampton, nói. "Tôi nghĩ rằng giáo sư già nhất ở khoa tôi là khoảng 75 tuổi. Nhưng tất nhiên cuộc sống ở giới học viện là rất tốt đẹp."
Với Frankland, tiếp tục làm việc là một quyết định thực tế- mặc dù ông rõ ràng là đam mê nghề mình. "Tôi từng say mê làm vườn, nhưng nay không làm được nữa," Frankland nói. "Tất cả những gì tôi từng làm, ở tuổi 106, tôi không thể làm được. Vậy còn việc gì để làm? Tôi đọc rất nhiều, hầu hết là về khoa học thay vì đọc tiểu thuyết hay thứ khác tương tự."
Ở công ty Forties People, không có hình mẫu thực sự nào cho các nhiệm vụ để tuyển dụng, mặc dù hầu hết là công việc văn phòng. "Đã có ba công ty báo chí gọi cho chúng tôi trong vài tuần qua," ông nói. Sau khi thử tuyển dụng nhân viên tiếp tân và nhân viên phát triển nhân lực trẻ và thấy rằng họ không đáng tin cậy, công ty đã quyết định thử với những người lớn tuổi mà họ có thể biết ưu tiên hóa công việc.
Đối với những người có công việc đòi hỏi sức khỏe, thì công việc liên tục sẽ có nhiều thách thức. Nhưng không phải lúc nào cũng thế. "Công nghệ đang thay đổi công việc chúng ta làm," Falkingham nói. "Vì vậy, thực tế một số công việc thủ công phải lao động vất vả thì đã có máy móc thực hiện. Việc này đang làm thay đổi bản chất công việc, mà nó cũng sẽ tạo thuận lợi cho con người làm việc được lâu hơn."
Vì vậy, liệu đa số người có đủ khả năng không?
Thực tế, hầu hết người sống trăm tuổi là khỏe mạnh một cách đáng ngạc nhiên. Họ có thể trông nhăn nheo, nhưng ở bên trong, họ thường có sức khỏe hơn nhiều người về hưu trẻ. Một nghiên cứu gần đây cho thấy rằng họ có xu hướng ít mắc bệnh hơn so với những người trẻ hơn họ hai thập niên.
Họ cũng không kém về tâm trí. Mặc dù đúng là một số khả năng có suy giảm khi chúng ta già đi, nhưng cái gọi là "trí tuệ kết tinh"- tức kỹ năng và kiến thức mà ta tích lũy qua nhiều năm- vẫn tiếp tục phát triển mãi sang tuổi già. Năm 2016, các nhà khoa học đã kiểm tra sức khỏe và khả năng của những người sống trăm tuổi đã đăng ký bỏ phiếu ở New York và nhận thấy rằng họ có rất ít dấu hiệu lão hóa và nhìn chung họ hoạt động ở mức độ cao.
Và mặc dù việc nghỉ hưu sớm thường được cho là tốt hơn cho sức khỏe, nhưng trong một số trường hợp, ngừng làm việc có thể gây ra điều ngược lại. Một nghiên cứu về công nhân ở Áo phát hiện ra rằng những người đã nghỉ hưu sớm hơn 3.5 năm có nguy cơ tử vong ở tuổi 67 cao hơn 13% - đặc biệt nếu họ là độc thân, cô đơn và coi việc nghỉ hưu như một cơ hội để giảm hoạt động thể chất.

Ở phía tây nam của các hòn đảo chính của Nhật Bản, về phía đông Biển Đông, có một tiền đồn nhiệt đới mà nó chứng mình cho điều nói trên. Okinawa nổi tiếng với tỷ lệ người trăm tuổi; ước tính cứ khoảng mỗi 2.000 người thì có 1 người trên 100 tuổi.
Trong nhiều năm, các nhà nghiên cứu tại địa điểm đặc biệt này đã nhận thấy một số khía cạnh của lối sống Okinawa mà nó có thể giải thích cho tuổi thọ cao của họ. Chúng bao gồm việc ăn rất nhiều rau và nhìn chung ít calo hơn so với người Mỹ trung bình- nhưng cũng có cả thái độ làm việc của họ.
Không có từ "nghỉ hưu" trong ngôn ngữ Okinawa; người dân địa phương, nhiều người trong số họ là nông dân và ngư dân từ nhỏ, họ có thể thể tiếp tục làm việc cho đến khi họ chết. Người cao tuổi sống theo nguyên tắc "ikigai", tạm dịch là "có lý do để thức dậy vào buổi sáng". Hòn đảo này tự hào có ban nhạc pop "trăm tuổi" duy nhất trên thế giới. KBG84 đã có chuyến lưu diễn bán sạch vé ở Nhật Bản và chỉ chấp nhận thành viên trên 80 tuổi.
Vì vậy, những người trăm tuổi không lụ khụ như bạn nghĩ đâu, và có rất nhiều công việc mà họ có thể lựa chọn. Nhưng liệu có ai muốn thuê họ không?
Có chứ. "Tôi nghĩ tương lai con người sẽ già hơn," Knight nói. Theo quan điểm của ông, những người già có nhiều lợi thế hơn các đồng nghiệp có bộ mặt trẻ hơn, kể cả khả năng làm việc với quần chúng và có kỹ năng cao về giao tiếp.
Ngoài ra, người già thường là chuyên gia trong nghề của họ. Frankland được mời ra tòa để nêu bằng chứng khi ông 99 tuổi. Vụ việc liên quan đến một người lái xe, người này tuyên bố tai nạn không phải là lỗi của anh ta, mà là do hậu quả của một phản ứng dị ứng sau khi anh bị ong đốt. Frankland đã thuyết phục tòa án rằng điều đó không thể xẩy ra được và bị cáo cuối cùng đã bị kết án.
Tuy nhiên, cũng có những thử thách. Knight cho biết một số khách hàng đã từ chối các ứng cử viên lớn tuổi vì họ quá tốt- họ được coi là mối đe dọa cho người thuê họ. Ví dụ, một nhân viên đã giải quyết thành công nhiều cuộc khủng hoảng trong khi một đồng nghiệp cấp trên đang đi nghỉ. Nhưng thay vì hài lòng, "họ đã không thuê bà nữa vì bà trở nên nổi tiếng hơn tại văn phòng. Họ tìm một người khác không có kỹ năng hoặc kinh nghiệm của bà."
Một khó khăn nữa, ít rõ ràng hơn, mà những người trăm tuổi có thể phải đối mặt, đó là họ già rồi. "Nếu bạn nhìn vào một trang web của một công ty và họ nói 'đây là một đội hình trẻ, năng động, mạnh mẽ,' thì điều cuối cùng họ muốn là một người già trong đó ," Knight nói. Có một khoảng cách văn hóa. Bạn hãy tưởng tượng nói với một đồng nghiệp đã có cháu về những điều thích thú mà bạn đã trải nghiệm đợt nghỉ cuối tuần. "Như vậy chẳng khác gì làm việc với cha mẹ hoặc ông bà mình."
Tuy nhiên, một nơi đang dẫn đầu là nước Nhật. Với tuổi thọ cao nhất hành tinh và tỷ lệ sinh giảm xuống mức thấp kỷ lục, thì gần một phần ba dân số đất nước là trên 65 tuổi. Thực tế nhân khẩu học này đã dẫn đến những phần thưởng, được chính phủ hậu thuẫn, cho các công ty lưu lại làm việc những người cao tuổi. Chính phủ cũng đang xem xét việc nâng cao độ tuổi, mà từ đó người ta có thể lựa chọn để yêu cầu trợ cấp hưu trí, lên 70.
Công ty mỹ phẩm Pola, chuyên bán các sản phẩm chăm sóc da, thực phẩm sức khỏe và đồ lót tại các siêu thị trên toàn quốc, hiện có khoảng 1.500 người- chủ yếu là phụ nữ- ở độ tuổi 70, 80 và 90. Họ thường xây dựng cơ sở khách hàng vững mạnh trong những năm qua và các nhóm người già có thể hoạt động tốt hơn những người trẻ.
Vậy làm thế nào mà Frankland lại tìm được việc làm ở tuổi 106? "Bây giờ tôi có đủ các loại rào cản thể chất, điếc là một trong số đó. Chỉ phải xử lý công việc là khó khăn rồi," ông nói. "Tìm kiếm các tạp chí và sự việc là việc chán khủng khiếp. Tôi bị rất hạn chế về thể chất. Trước tôi nói 'có' với mọi thứ, bây giờ tôi bắt đầu nói 'không'."
Khả năng tinh thần của Frankland lại là chuyện khác. Thật khó để tìm được một người để phỏng vấn hấp dẫn hơn- tại lúc này, tôi được thưởng thức những câu chuyện về mọi thứ, từ thời gian ông là tù binh chiến tranh Nhật đến quyển sách đã gây cảm hứng cho ông trở thành bác sỹ.
Không phải ai cũng nghĩ có một sống về già thơ mộng; đối với nhiều người, sức khỏe kém sẽ có nghĩa là không thể làm việc tới quá 65 tuổi. Nhưng rõ ràng có thể thực hiện được. Và nếu đây là tương lai của công việc, thì văn phòng sắp trở nên thú vị hơn nhiều.
(Nguồn: BBC)

Thứ Tư, 30 tháng 5, 2018

Mẹ Tôi


Mẹ ơi con đã già rồi con ngồi nhớ mẹ khóc như trẻ con
Mẹ ơi con đã già rồi con ngồi ngớ ngẩn nhớ ngôi nhà xưa
Ngày xưa cha ngồi nhớ mẹ, mẹ buồn xa vắng
Nhìn cha, thương cha chí lớn không thành.

Ngày xưa chị hát vu vơ những câu ca cổ cho em nằm mơ
Ngày xưa mẹ đắp cho con tấm khăn quàng cổ ấm hơi mẹ tôi
Ngày xưa bên giường cha nằm mẹ buồn xa vắng.
Nhìn cha, thương cha chí lớn không thành.

Biển sóng thét gào một ngày nhớ mẹ sóng trào khơi xa
Trời gió mây ngàn một ngày khóc mẹ trăm ngàn sao rơi
Mẹ ơi thế giới mênh mông, mênh mông không bằng nhà mình.
Dù cho phú quý vinh quang, vinh quang không bằng có mẹ

Trèo lên dãy núi thiên thai ối a mẹ ngồi trông áng mây vàng
Mẹ ơi hãy dắt con theo ối a để con mãi mãi bên mẹ.
Mẹ ơi thế giới mênh mông, mênh mông không bằng nhà mình.

Dù cho phú quý vinh quang, vinh quang không bằng có mẹ.
Trèo lên dãy núi thiên thai ối a mẹ tôi về đâu?
Ngàn năm mây trắng bay theo ối a mẹ ơi mẹ về đâu?
(Trần Tiến)

Thứ Tư, 16 tháng 5, 2018

Trầu Không



Hoa gạo đỏ tháng ba
Và sóng sánh nơi bến chờ, bến đợi
Sông sâu, cây cầu chưa bắc
Em lội một mình, nước nhòa vỗ mặt

Trầu xanh chưa hái, cau đã úa vàng
Thêm một người sang, thuyền không về bến
Nửa đời tìm kiếm mái chèo đa đoan
Nghìn dặm tơ vàng, ai người biết gỡ?

À ơi, à ơi!
Ơ, đôi bờ bến nào là nhớ, bến nào là quên?
Ru em giấc trưa, nắng vương yếm đào
Chiều còn sợi nắng, em ngồi đan nắng

Cho em, em heo may
Nửa đời tìm kiếm mái chèo đa đoan
Nghìn dặm tơ vàng, ai người biết gỡ?
À ơi, à ơi!

Ơ, đôi bờ bến nào là nhớ, bến nào là quên?
Ru em giấc trưa, nắng vương yếm đào
Chiều còn sợi nắng, em ngồi đan nắng
Cho em, em heo may

À ơi!
(Ca khúc trong phim: Thương nhớ ở ai)

Thương nhớ ở ai


Lâu rồi mới xem được một bộ phim truyền hình đáng xem như Thương nhớ ở ai:
Thoạt đầu đọc báo, thấy ồn ào chuyện áo yếm, xem 7 tập đầu rồi mới thấy mấy người làm báo bây giờ có cái nhìn rất bệnh hoạn, nó bao gồm cả sự thiếu hiểu biết và cách tư duy nông choèn choẹt.
Có người viết hẳn một bài khai thác chuyện đạo diễn cấm diễn viên mặc áo ngực khi mặc yếm. Ối trời! Ông bà ta sinh ra cái yếm là áo trong cùng đó mấy cha!
Chuyện mặc yếm đẹp, lẽ thường, mang đến cái đẹp hướng thiện, không có gì phải xoắn.
Xem thêm vài tập rồi viết kỹ, giờ nói qua thế này:
Đề tài của bộ phim có thể không hấp dẫn với đa số giới trẻ nhưng nếu người trẻ không xem thì thật là phí cuộc đời. Vô vàn kiến thức lịch sử và đời sống trong đó.
Phim được làm kỹ lưỡng, chọn diễn viên nhân vật nào ra nhân vật đó.
Bối cảnh diễn ra ở một làng quê Bắc bộ đặc trưng, cực đẹp.
Đạo diễn hình ảnh tuyệt đỉnh!
Âm nhạc siêu phàm!
Phim chứa đựng nhiều triết lý đời sống sâu sắc, không chỉ cho giai đoạn lịch sử đó mà cho cả bây giờ.
Một anh Đột cố nông không biết chữ làm chủ tịch xã có thể ưa bắn ai thì bắn nhưng xao xuyến đến mức không ngủ được khi nghe cô Nương hát ca trù, để rồi bừng tỉnh mà hỏi cả làng có ai biết yêu bao giờ chưa?
Người làng có người ba vợ, bốn con... giật mình, ừ nhỉ, họ chưa bao giờ nói tiếng yêu. (Kiếm đâu ra cái cha đóng vai Đột thiệt là quá đỉnh).
Những người phụ nữ nông thôn quê mùa có thể cấm mấy ông chồng không được lai vãng quanh "con đĩ" Nương nhưng khi các chị làm nhà cho cô ấy cũng làm thêm cái sào phơi vì cô ấy có nhiều áo quần đẹp.
Bi kịch của một giai đoạn lịch sử được tái hiện qua mỗi trường đoạn khiến con tim ta đau đớn nhưng chỉ thương cho mình chứ không thù hận.
Rất tiếc là phim không được chiếu vào giờ vàng, phải chờ mỗi tuần đến chiều chủ nhật. Phải nói là trông chờ.
*
Cũng có mấy thứ vặt vảnh là âm nhạc hay nhưng hơi lạm dụng. Dù nghe rất đã!
Đạo diễn chọn diễn viên, cả diễn viên quần chúng đóng vai người già rất kỹ, kỹ đến từng bàn chân, một lớp người già "Giao Chỉ" nhưng sinh ra con gái thì đẹp quá, nõn quá! :P
Một số đoạn thoại từ miệng nông dân ít học lại...thơ quá, nghe không thật.
Con trâu sau cải cách béo láng quá.
Dù thế nhưng phim vẫn hay đến từng.... centimet!
Hiếm khi xem phim mà mình coi kỹ từ đầu rồi chờ nghe ca khúc cuối cùng cho đến hết.
Phải một người đau đáu lắm mới làm được như Lưu Trọng Ninh.
*
Nghe ca khúc này một lần đi, nó thổn thức đến tận tâm can:
Trầu xanh chưa hái, cau đã úa vàng
Thêm một người sang, thuyền không về bến
Nửa đời tìm kiếm mái chèo đa đoan
Nghìn dặm tơ vàng, ai người biết gỡ?

(Nguồn: Nguyễn Thế Thịnh)